Chương 222: Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Nguyệt Minh ở Tây Xiang
Tôi bỗng nhiên nhớ ra rằng Trần Hái Tử đã đề cập đến những con người và quái vật bằng đồng trong ngôi mộ cổ ở Núi Bình Chén; chúng dường như giống hệt con rồng bằng đồng mà tôi từng thấy, cũng như con cá bằng đồng được khắc trên “Gương soi xương của Vua Tần”. Trước đây, ông ấy đã nói rằng những vật này có liên quan đến các quẻ bói cổ xưa, nhưng lúc đó tôi chưa kịp tìm hiểu sâu hơn. Bây giờ khi nghĩ lại về chuyện này, tôi muốn xin ý kiến của ông ấy.
Trần Hái Tử nói: “Nguồn gốc của những vật cổ này… Dù lúc đó tôi cũng được coi là một học giả uyên bác, không kém gì Khổng Tử hay Mạnh Tử, nhưng thực sự tôi cũng không thể hiểu rõ nguồn gốc của chúng. Câu chuyện về việc tôi biết điều đó ra sao thì phải kể từ một trải nghiệm khác.”
Trần Hái Tử kể lại rằng, vào thời điểm đó, trước khi dẫn đoàn người xuống miền Nam Yunnan để tìm kiếm kho báu, chúng tôi đang chuẩn bị đánh giá và bán những vật phẩm quý giá được khai quật từ Núi Bình Chén. Lần này, việc bán những vật cổ này diễn ra nhanh chóng hơn bao giờ hết, bởi vì vụ trộm mộ ở Tây Xiang đã gây ra nhiều tiếng vang lớn. Lúc đó, không chỉ dư luận xã hội lên án mạnh mẽ hành động trộm cắp của các quân phiệt và bọn cướp, mà còn có rất nhiều thương nhân đồ cổ từ khắp nơi đổ xô đến, tất cả đều muốn tận dụng cơ hội này để kiếm lợi nhuận.
Trong thời buổi loạn lạc, giá trị của đồ cổ giảm sút, nhưng mỗi khi có sự sụt giảm, chắc chắn sẽ có sự tăng trưởng sau đó. Vì vậy, hoạt động mua bán đồ cổ vẫn tiếp tục diễn ra.
Ở tỉnh đó, có một người giàu có yêu thích đồ cổ, họ tên Tiền. Gia đình ông ta sở hữu nhiều nhà máy dệt ở Thượng Hải, Thiên Đảo và các nơi khác, đồng thời cũng có nhiều doanh nghiệp kinh doanh khác. Ông Tiền xuất thân từ một gia đình học giả, từ nhỏ đã yêu thích đồ cổ và đã nhờ người tìm đến Trần Hái Tử để tự mình lựa chọn một số vật phẩm mà ông ta ưa thích.
Trong số đó có chiếc sáo hình chim trĩ được tìm thấy trong giếng thuốc, chiếc quan tài nơi con giun đất sáu cánh quỳ gối trước quan tài và nhả ra viên thuốc đỏ, cùng với lò đúc bằng đồng trong giếng thuốc. Ngoài ra, ông Tiền còn mua thêm những con người và quái vật bằng đồng với hình dạng kỳ lạ và mộc mạc. Ông Tiền vô cùng hài lòng và vui mừng như thể vừa tìm thấy báu vật quý giá vậy.
Trần Hái Tử luôn tự cho mình là người xuất chúng
Để sử dụng những tấm biển đồng cổ này, ít nhất phải có bốn tấm. Người ta nói rằng nếu nắm vững bí quyết này, người ta có thể hiểu được những điều huyền bí của trời đất. Nhưng ông Chien không biết cách sử dụng chúng; ông chỉ biết rằng những tấm biển đồng đó chắc chắn là vật cổ từ thời ba triều đại – Tây Hán, Thương và Chu. Còn những vật từ thời Đường hay Tống thì so với các di tích lịch sử của ba triều đại kia, vẫn chưa thể được coi là vật cổ. Trong mắt những người am hiểu sâu sắc, giá trị sưu tầm của chúng hoàn toàn khác nhau. Còn cái lò đồng dùng để luyện đan kia thì có lẽ là vật từ cuối thời Tây Hán.
Trên lò đồng đó có nhiều họa tiết tinh xảo và huyền bí, miêu tả cảnh người xưa luyện đan. Nếu quan sát kỹ, người ta cũng có thể thấy những dấu hiệu của những tấm biển đồng cổ đó. Tuy nhiên, dù ông Chien có kiến thức sâu rộng, ông cũng không hiểu được nội dung của chúng. Ông chỉ cảm thấy đây là những vật kỳ lạ từ thời cổ đại, chứa đựng những bí mật sâu thẳm và có giá trị sưu tầm rất cao.
Ông Chien nghĩ rằng vì không biết chúng dùng để làm gì, việc giữ chúng ở nhà cũng chẳng có ích gì. Vì vậy, sau khi tiếp nhận chúng, ông cũng không quá quan tâm đến chuyện đó nữa. Thời gian trôi qua nhanh chóng, hơn nửa thế kỷ trôi qua, ông chưa bao giờ gặp lại những tấm biển đồng cổ tương tự nữa, và chuyện ngày xưa cũng đã bị ông quên đi. Cho đến khi lần gần đây tôi nhắc đến chuyện những tấm biển đồng trong hang Bách Nhãn Khố Long Phủ, ông mới bỗng nhiên nhớ ra chuyện này.
Ông Chien nói với tôi: “Nếu các bạn may mắn tìm đủ bốn tấm biển đồng cổ đó, hãy cho tôi biết xem, rốt cuộc chúng ẩn chứa những bí mật gì.” Tôi trả lời: “Thực ra, tôi chỉ tình cờ gặp hai tấm biển đồng cổ mà thôi. Mặc dù tôi rất quan tâm đến chúng, nhưng tôi cũng không sẵn lòng đi khắp nơi để tìm kiếm chúng chỉ vì muốn khám phá những bí mật mà người xưa để lại. Hiện tại, điều tôi quan tâm nhất là biết rằng ở đâu trên thế giới này còn những ngôi mộ cổ chứa đựng kim đan? Việc tìm ra chúng quan trọng hơn nhiều so với việc tìm kiếm những linh hồn cổ.”
Ông Chien cười và nói: “Bạn nói sai rồi. Cuộc đời con người ngắn ngủi, bé nhỏ như loài kiến; nếu có thể dùng thân xác nhỏ bé của mình để hiểu được những bí mật của trời đất, dù phải hy sinh mạng sống cũng xứng đáng.” Tôi cười buồn và lắc đầu; mặc dù
“Trần Hái Tử nói: ‘Còn về những viên đan trong xác ướp cổ đó, thì ở núi Bình Sơn thuộc Xiangxi chắc chắn có, và không chỉ một hai viên đâu; bởi vì núi Bình Sơn vốn dĩ là cung điện của các vị đạo sư luyện đan, đồng thời cũng là ngọn núi chứa đầy dược liệu, nên việc tìm thấy những thứ này ở đó cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Còn ở những nơi khác thì rất hiếm thôi. Nhưng núi Bình Sơn đã bị cướp sạch từ hàng chục năm trước rồi; ngay cả những ngôi mộ của những người dân bản địa không có gì quý giá, cũng bị những kẻ trộm không tài năng đào sạch hết. Bây giờ, nếu hai người muốn tìm kiếm những viên đan trong ngôi mộ cổ đó, e là phải cầu mong sự may mắn từ trời cao mới được… Nếu không có thông tin gì cả, thì dù có đi khắp nơi trên thế giới này, cũng sẽ rất khó để tìm ra.’”
Thấy hy vọng cuối cùng cũng tan biến hết, tôi cảm thấy tuyệt vọng vô cùng; có vẻ như mạng sống của Đa Ling đã không thể cứu được nữa… Nhưng miễn là Đa Ling vẫn còn sống, tôi sẽ cố gắng tìm mọi cách khác để cứu cô ấy. Thấy trời đã tối, không thể trở về Bắc Kinh vào ngày hôm đó, tôi đành phải ở lại tại khách sạn do Bộ Đường sắt tổ chức.
Ngày hôm sau, tôi hỏi Trần Hái Tử ông ấy có kế hoạch gì tiếp theo không, và có muốn đi cùng tôi đến Mỹ không. Trần Hái Tử thở dài và nói: “Người xưa thường so sánh cuộc đời con người với một giấc mơ, than phiền về sự vội vã của thời gian… Cuộc đời con người, giống như việc tồn tại trong không gian hư vô; bao nhiêu niềm vui, nỗi buồn, sự thành công, thất bại, sự gặp gỡ và chia ly… Tất cả rồi cũng chỉ như một giấc mơ mà thôi. Có gặp gỡ thì rồi cũng phải chia tay… Điều này thực sự phản ánh tính vô thường của cuộc đời… Không ngờ rằng sau khi chia tay bên bờ hồ Động Đình ngày xưa, chúng ta lại không bao giờ gặp lại nhau nữa… Nhìn lại quá khứ, mọi chuyện dường như vừa mới xảy ra hôm qua… Về mặt tình cảm lẫn lý lẽ, tôi đều nên đến thăm mộ của người bạn cũ ấy… Nhưng xem ra cái xác già yếu của tôi này cũng không còn sống được bao lâu nữa… Tôi không muốn chết ở một đất nước xa xôi như thế này… Tôi muốn trở về quê hương ở Xiangyin một lần nữa trước khi qua đời.’”
Tôi đành mua vé tàu hỏa, cùng Shirley Yang đến ga xe lửa để tiễn ông ấy lên tàu… Chúng tôi cũng hẹn nhau rằng trước lễ Qingming, tôi sẽ đến thăm ông ấy, và cùng nhau đến Mỹ để thăm mộ của “vị đạo sư cuối cùng”. Sau khi tiễn __TERM
Những hiện vật quý báu này đến từ tỉnh Hồ Nam, bao gồm cả một số hiện vật cấp quốc bảo được các người Hoa yêu nước ở nước ngoài tặng cho đất nước. Trong số đó, đáng chú ý nhất là những vật phẩm hiếm có trong lịch sử như “vòng đeo bằng đồng hình người không mắt (thời Chu), lò đồng được khắc vàng, phủ bạc với họa tiết chín màu (thời Hán)…”
Tôi thầm nghĩ: “Lịch sử luôn đầy những sự trùng hợp kỳ lạ; những thứ này chẳng phải chính là những báu vật mà những anh hùng xưa đã khai quật được từ núi rừng sao? Hóa ra chúng đã được các người Hoa yêu nước dâng hiến cho đất nước, và giờ đây được trưng bày tại Thượng Hải để mọi người tham quan.”
Shirley Yang cũng tò mò và nói: “Hình ảnh trên báo hơi mờ ảo; sao chúng ta không đi thăm Bảo tàng Thiên nhiên để xem trực tiếp nhỉ?”
Chúng tôi đồng ý ngay lập tức, không quay lại khách sạn mà đi thẳng đến Bảo tàng Thiên nhiên để mua vé vào cửa. Bảo tàng này được thành lập từ rất sớm, vào đầu thời kỳ Cộng hòa Trung Hoa, ban đầu được gọi là “Bảo tàng Bắc Giang”, sau đó được đổi tên thành “Bảo tàng Khoa học Nhân dân”. Vì mới mở cửa trở lại không lâu, nên số lượng hiện vật trưng bày còn khá ít; tuy nhiên, lượng du khách đến thăm vẫn rất đông, đa số là các nhóm học sinh được tổ chức. Hầu hết mọi người đều đến xem các hóa thạch và mẫu vật của động vật, thực vật cổ đại.
Vào thời điểm đó, trào lưu triển lãm rất phổ biến trong xã hội; chỉ cần đến công viên là bạn có thể thường xuyên bắt gặp các triển lãm về “hóa thạch thai nhi dị dạng, xác ướp cổ đại ở Tân Cương, giải phẫu con người…”, thậm chí còn có những triển lãm về động vật quý hiếm như chuột cỡ bằng heo con, quái vật có đầu người và thân rắn… Những triển lãm này thường mang tính chất thu hút sự chú ý, nhưng cũng không thiếu những trường hợp lừa đảo.
Vì vậy, tôi không mấy hứng thú với các hiện vật trưng bày trong bảo tàng này. Thấy có cầu thang dẫn lên tầng hai, nơi diễn ra triển lãm “Các hiện vật quý báu được khai quật ở tỉnh Hồ Nam”, tôi liền dẫn Shirley Yang lên tầng hai.
Khi bước vào tầng hai, tôi thấy rằng số lượng hiện vật trưng bày thực sự rất phong phú – hàng trăm vật phẩm lớn nhỏ được sắp xếp gọn gàng trong các tủ kính. Trong số đó, có khá nhiều là bản sao; những vật thật sự quý giá chắc chắn không thể để người ta xem thoải mái như vậy được. Tuy nhiên, đối với khách tham quan thông thường, họ cũng khó có thể phân biệt được đâu là bản thật, đâu là bản sao; họ chỉ coi đó là những thứ mới lạ mà thôi. Dù vậy
Shirley Yang nhớ lại rằng ông ngoại của mình từng ẩn náu trong cái lò này, và bà không khỏi mơ màng suy tưởng về chuyện đó. Trong khi đó, tôi thì chăm chú quan sát các họa tiết trên thân lò, cố gắng nhận ra từng chi tiết nhỏ, nhưng điều đáng tiếc là khoảng cách giữa lò và kính tủ trưng bày lên tới một mét; dù tôi không bị cận thị, nhưng cũng không thể nhìn rõ được những chi tiết phức tạp ở đó. Hơn nữa, trên lò đồng có khắc tám bức tranh “Tiên nhân chế thuốc”, nhưng do góc độ, một số bức bị che khuất và tôi hoàn toàn không thể nhìn thấy chúng.
Bỗng nhiên, Shirley Yang nhớ ra mình đã quên máy ảnh ở khách sạn, và vì muốn chụp một số hình ảnh, cô ấy bảo tôi tự do đi dạo trong bảo tàng trong lúc cô ấy quay lại lấy máy ảnh.
Tôi đành phải tự mình lang thang trong bảo tàng, quan sát lại lò đồng vài lần, sau đó đi xem nhóm tủ trưng bày khác với những “biểu tượng đồng” được trưng bày bên trong. Những biểu tượng có hình người hay ma với đôi mắt trống rỗng ấy đều có mặt, màu xanh đồng cổ kính, trông như thật. Khi tôi định tiến lại gần để quan sát kỹ hơn, bỗng nhiên một cảnh sát mặc đồng phục đi đến và không nói gì đã tát tôi một cái vào vai.
Tôi đang tập trung nhìn những biểu tượng cổ đó, không ngờ lại xảy ra chuyện này. Sự việc xảy ra đột ngột khiến tôi hoang mang không hiểu chuyện gì đang xảy ra; việc ngắm nhìn những vật cổ có phải cũng là vi phạm pháp luật sao? Tôi ngớ ngẩn hỏi cảnh sát: “Anh cảnh sát ơi, anh đang làm gì vậy? Tôi vẫn tuân thủ đầy đủ ‘Năm điều nói, Bốn vẻ đẹp, Ba tình yêu’ mà…”
Nhưng cảnh sát đó lại hét lên: “Trung đội trưởng, anh không nhận ra tôi à?” Giọng nói của anh ta rất lớn, làm cho tai tôi ù ù. Khi tôi nhìn kỹ, mới nhận ra đó là một đồng đội cũ của mình từ thời quân đội, chúng tôi đã cùng nhau chiến đấu ở chiến trường Việt Nam. Anh ta tên là Aihongjun, và tôi từng đặt cho anh ta biệt danh “Kẻ thích gây rối”. Kể từ khi tôi rời quân đội, tôi không còn gặp lại anh ta nữa; không ngờ vài năm sau, chúng tôi lại gặp nhau tại bảo tàng tự nhiên. Cuộc gặp gỡ bất ngờ này khiến tôi vừa ngạc nhiên vừa vui mừng.
Tôi cười nói: “Lão Aihongjun, giọng nói của anh vẫn to như xưa… Sao bây giờ anh lại gia nhập lực lượng công an vậy…” Đang chuẩn bị kể chuyện cũ, bỗng nhiên tôi nhìn thấy một bóng dáng quen thuộc lướt qua cửa phòng trưng bày, và tôi lập tức cảm thấy có điều gì đó không ổn. Cảm giác như có ai đó
Chưa có truyện phù hợp.