Chương 5: Mỗi người trong các bạn đều sở hữu những kỹ năng đặc biệt.
Vào lúc hoàng hôn, không ít học giả và sinh viên đến từ Constantinople tụ tập quanh những chiếc nồi lớn ở quảng trường, cầm theo bát chờ đợi người nấu làm xong mì.
Những nơi mà mọi người thường ăn mì nhiều nhất vào thời điểm này là ở khu vực Xa Đình Vương Quốc. Họ cán mịn khối bột rồi cắt thành những sợi mì dài, sau đó phơi khô chúng.
Ở Lãnh địa Weisen, người ta đã sử dụng máy làm mì; con trục cung cấp nguyên liệu sẽ đẩy khối bột về phía trước, và cuối cùng chúng sẽ được ép ra qua khuôn ở đỉnh ống tròn, tạo thành những sợi mì tròn và mỏng. Chỉ cần có người xoay tay cầm máy là được.
Sau khi làm xong mì, người ta cho chúng vào nồi luộc chín, vớt ra bỏ vào bát, sau đó thêm một muỗng sốt tỏi, một muỗng rau củ và vài lát xúc xích lên trên.
Khi ăn xong mì, mọi người cũng có thể xin thêm một bát nước dùng mì.
Đối với những người du khách đã mệt mỏi sau chặng đường dài, việc được ăn một bữa ăn nóng no là coi như đang thưởng thức một bữa tiệc xa hoa.
Ở một nơi khác, Frederick mời Manue và một số học giả có địa vị quý tộc đến nhà hành chính của thị trấn để dùng bữa tối cùng nhau.
Do không kịp chuẩn bị những món ăn sang trọng, món chính tối nay là mì, món mặn là đùi heo nướng ăn kèm dưa chua, cùng với canh gà nấu với rau củ theo mùa và rượu ngon được lấy từ kho rượu ở Vĩ Tân. Món tráng miệng chỉ đơn giản là những quả trứng “pha lê đen” được trang trí thành hình cánh hoa; tổng thể mà nói, bữa ăn này khá đầy đủ và no bụng.
Manue và những người khác trong thời gian này đã đói khổ lắm; họ hiếm khi có cơ hội xuống thuyền, và hàng ngày chỉ ăn bánh mì đen cùng với những thứ được nấu chung lại với nhau.
Trong suốt bữa ăn, mọi người đều không có hứng thú trò chuyện; việc được chủ nhà đãi đãi là điều hiếm có, vì vậy họ cứ tập trung ăn uống là chính.
Sau khi bữa ăn kết thúc, Frederick mới hỏi Manue: “Xin hỏi ông có kế hoạch gì cho tương lai không?”
Ánh mắt Manue đầy bối rối; anh buông lời một cách bất lực: “Tôi không biết… Chúng tôi chỉ có thể tiếp tục đi, xem nơi nào sẵn lòng tiếp nhận chúng tôi.”
Nói xong, anh nâng ly lên và uống hết ngụm rượu ngon bên trong. Vì có rượu ngon để uống, anh quyết định uống thật nhiều.
Frederick ra hiệu cho Afo rót thêm rượu cho mình; sau khi ly đã đầy, ông mới hỏi tiếp: “Tôi có một câu hỏi… Các vị đều là những học giả hiếm có trên thế giới; trước đây, ngay cả khi mời các vị, chúng tôi cũng không thể mời được… Tại sao bây giờ lại rơi vào tình cảnh nh
Tiếp theo, một học giả tên là Friedrich cũng lắc đầu nói: “Tôi là người chuyên về các loại độc dược trong số những người làm nghề dược sĩ; nếu ông nhận tôi vào phục vụ, e rằng ngay cả nước uống cũng không dám dùng nữa.”
Học giả thứ ba tên là Diesel cười khổ nói: “Có lẽ ông chưa từng nghe đến tôi, nhưng người quản gia của ông hẳn biết rằng phép thuật nổ của tôi rất mạnh mẽ… nhưng nó không phân biệt được bạn hay thù.”
Nghe vậy, Frederick ngạc nhiên nhìn về phía Afo. Ông biết rất ít về người quản gia này; chỉ biết rằng Afo đã được cha mình cứu mạng từ rất lâu trước đây, và kể từ đó anh ta bắt đầu phục vụ cho gia tộc Vĩ Tân, và quá khứ của anh ta thì không ai biết gì cả.
Afo chỉ gật đầu mà thôi.
Học giả thứ tư tên là Omete vừa dang hai tay ra vừa nói: “Tôi nghiên cứu về những con quái vật bằng phép thuật… Nhưng những năm gần đây, phép thuật phá hoại phát triển rất nhanh, nên ưu điểm về khả năng phòng thủ của những con quái vật này ngày càng trở nên không rõ ràng; chúng vẫn không thể sánh kịp con người về trí tuệ, và giá thành để tạo ra chúng cũng rất cao… Vì vậy, hiện nay không ai muốn sử dụng chúng nữa.”
Học giả thứ năm, Mátias, che mặt nói: “Tôi là người chuyên trồng cây… Nhưng những cây mà tôi trồng lại quá to lớn, khiến chúng không linh hoạt chút nào trong chiến đấu.”
Học giả thứ sáu, Monoflo, chỉ vào Mátias và nói: “Tôi là người huấn luyện thú… Tôi cũng giống như anh ấy vậy.”
Cuối cùng, Manuei nói: “Tất cả họ đều từng đến Constantinople học tập khi còn trẻ… Bây giờ họ trở về quê hương để thử xem có may mắn gì không.”
Sau khi nghe họ nói xong, Frederick nói một cách nghiêm túc: “Tôi nhận ra rằng mỗi người trong số các bạn đều sở hữu những kỹ năng đặc biệt.”
“Tôi không có ý chế giễu hay chế nhạo các bạn đâu… Thực sự tôi nghĩ như vậy.”
“Tôi luôn tin rằng, không có phép thuật vô dụng, cũng không có phép thuật tự nhiên mà xấu xa… Chỉ có những người không biết cách sử dụng chúng vào đúng nơi mà thôi.”
“Thưa Ngài Manuei, nếu các bạn không ngại, tôi xin mời tất cả đến dinh thự bên hồ Brombach để nghỉ ngơi và tiếp tục công việc học thuật của mình.”
“Điều tôi mong muốn nhất, chắc chắn là các bạn sẽ ở lại đây và tiếp tục theo đuổi sự nghiệp học thuật của mình.”
Không khí trong căn phòng bỗng trở nên yên tĩnh đặc biệt… Mọi người đều im lặng; không ai ở đây là kẻ ngốc… Mọi người đều hiểu rõ mối quan hệ giữa sự cống hiến và kết quả đạ
“Ngoài những điều đó ra thì sao nữa?” Manuai hỏi, “Chúng ta còn cần phải làm gì nữa không?”
Friedrich cầm ly lên uống một ngụm nước trái cây, suy nghĩ kỹ lưỡng rồi mới nói: “Tôi dự định sẽ đào một con kênh nối sông Danube với sông Rhine tại lãnh địa này; khi đó, nơi đây sẽ trở thành một trung tâm thương mại mới nổi.”
“Nếu các người mở trường học ở đây, chắc chắn sẽ thu hút được rất nhiều học sinh, và việc cung cấp nhu yếu phẩm cho những học sinh này cũng sẽ giúp lãnh địa thu được thuế.”
“Các người cũng đã mang theo rất nhiều sách; tôi đoán chủ yếu là sách văn học của đế quốc, vì vậy tôi dự định tài trợ để các người dịch chúng sang tiếng Rhine.”
“Khi đó, tôi sẽ bán những cuốn sách bản tiếng Rhine này và trả hoa hồng cho các người.”
“Tất nhiên, tôi cũng sẽ yêu cầu các người thực hiện một số công việc khác: tôi sẽ tìm một số thanh niên để các người đào tạo, và khi tôi gặp phải những vấn đề liên quan đến ma thuật, tôi cũng sẽ xin ý kiến từ các người.”
Sau đó, ông nói với Friedrich: “Thưa ngài, ngài là một chuyên gia về độc dược; tôi dự định tài trợ cho ngài nghiên cứu những loại thuốc rẻ tiền có thể loại bỏ bệnh giun sán mà không gây hại cho con người.”
Vào thời điểm này, bệnh giun sán là một vấn đề nghiêm trọng; khoảng 10% dân số trong các thị trấn bị nhiễm bệnh, tỷ lệ này ở các làng mạc còn cao hơn nữa, còn động vật nuôi thì tỷ lệ nhiễm bệnh càng cao hơn nữa.
Friedrich nhận thấy rằng giun sán ở thế giới này còn nguy hiểm hơn so với ở quê hương ông ở kiếp trước; nhiệt độ của phân ủ không thể tiêu diệt được trứng giun sán, chỉ có nước sôi mới có thể làm được điều đó. Trứng giun sán thậm chí còn có lớp vỏ bọc giống như hạt của một số loại thực vật, khiến chúng khó bị tiêu hóa, và chúng có thể lây truyền qua phân của chim.
May mắn thay, trên thế giới này có một loại dung dịch axit màu xanh lá – Thái Lâm – dung dịch axit do chúng tiết ra không chỉ có thể hòa tan áo giáp và quần áo của các nữ hiệp sĩ, nữ pháp sư mà còn có thể tiêu diệt lớp vỏ bọc bên ngoài trứng giun sán cùng với chính những quả trứng đó khi chúng tiêu hóa các chất hữu cơ trong đất và phân bón.
Theo lý thuyết, việc rải dung dịch axit Thái Lâm vào đống phân có thể giúp giảm thiểu sự lây truyền của giun sán, nhưng vì đống phân sau đó sẽ được đem đi sử dụng làm phân bón cho đất trồng, nên dung dịch axit này có thể gây hại cho cây trồng.
Friedrich không còn cách nào khác, chỉ có thể lên kế hoạch sử dụng thuố
Chưa có truyện phù hợp.