Chương 94
Từ ngày mùng 1 tháng Năm trở đi, cứ hai ngày lại có buổi học giảng bài, một ngày để ôn tập; chẳng mấy chốc đã đến Tết Đoan Ngọ. Thôi Hiệp Sáng hôm đó, anh vẫn lặng lẽ lấy sợi dây năm màu ra, buộc nó cao trên cánh tay trái; tay áo kéo xuống che khuất nó, nên không ai có thể nhìn thấy được. Khi nào trời mưa, anh sẽ vứt nó vào nước – theo tục lệ, như vậy các bệnh tật cũng sẽ theo dòng nước mà biến mất.
Anh không phải là người mê tín; ngay cả khi còn nhỏ trong kiếp trước, anh cũng chẳng quá quan tâm đến những phong tục này. Nhưng sợi dây năm màu này là người khác tặng cho anh; việc đeo nó chính là thể hiện lòng tốt của họ.
Vào dịp Tết Đoan Ngọ, trường học vẫn không nghỉ. Trước khi đi, anh nhờ người mang những chiếc bánh chưng đã gói sẵn theo quy tắc mà Cựu Tham mưu viên Cui đã đặt ra, để tặng cho mọi người như một lễ vật; đồng thời, anh cũng thêm vài con hổ làm từ cỏ ngải, và gửi một phần đầy đủ cho Hạ gia.
Bản thân anh cũng mang theo một giỏ bánh chưng, đeo túi thơm để xua đuổi điều xấu rủi, rồi cõng cặp sách đến Quốc Tử Giám. Bên trong trường, người ta cũng treo đầy những con hổ làm từ cỏ ngải; chúng được tạo hình thành những con hổ nhỏ bé, với đôi tai nhọn, giống như những con hổ bằng đất sét hay vải trong nghệ thuật dân gian; mùi thơm từ chúng lan khắp khuôn viên trường, khiến số lượng muỗi và ruồi bay quanh trường giảm đi đáng kể vào mùa hè.
Thôi Hiệp Trước tiên, anh đặt giỏ bánh chưng xuống phòng ăn, sau đó theo người phụ trách phòng ăn đến lớp học để nghe học sinh giảng bài.
Buổi học giảng vào ngày mùng 2 do Giáo sư Chương Kiện trực tiếp thực hiện; anh ấy giảng về “Luận Ngữ • Tiên Hạnh Thập Nhất”. Chương đầu tiên có nội dung: “Tử Viết: Những người tiên phong trong việc tuân theo lễ nghi âm nhạc thì chỉ là những người dân thường mà thôi”, và điều này hoàn toàn trùng khớp với đề bài văn học từ “Tứ Thư” mà họ đã làm trong kỳ thi nhỏ vào tháng trước. Cảm giác này hơi giống như ở các trường học phổ thông hiện đại: sau kỳ thi, giáo viên sẽ giảng lại những đoạn văn và kiến thức đã xuất hiện trong bài thi để giúp học sinh ghi nhớ chúng sâu hơn.
Khi đến chương thứ hai: “Tử Viết: Những người theo tôi đến Chen và Cai thì đều chưa bao giờ đặt chân vào cửa nhà tôi”, cuối cùng thì đến lượt anh phải lên bục giảng. Sau bao nhiêu ngày, sau khi hàng chục người đã lần lượt giảng bài, cuối cùng cũng đến lượt anh… Nhưng may mắn thay, anh vẫn còn nhớ hết nội dung bài giảng; trong quá trình ôn tập, an
Sau khi thuộc lòng đoạn văn này, ông bắt đầu kể lại câu chuyện về lúc Khổng Tử gặp nạn tại Trần và Thái.
Trong “Luận Ngữ”, chỉ có vài dòng ngắn trong phần “Vệ Linh Công hỏi Khổng Tử về Trần” mới thực sự đề cập đến sự gian khổ của ông tại hai quốc gia này. Ông trích dẫn đoạn văn mà Khổng Tử đã dạy Tử Lộ rằng: “Quân tử dù nghèo khó cũng giữ vững phẩm giá; kẻ tiểu nhân khi nghèo thì sa đọa.” Trong đoạn văn đó, Khổng Tử nói rằng “Người hiền triết khi cần phải hành động thì sẽ làm ngay mà không e ngại điều gì,” “Họ kiên định sống trong cảnh nghèo khó mà không oán trách hay hối tiếc.”
Sau khi trích dẫn đoạn văn này, ông tiếp tục giới thiệu về “Gia Ngữ” của Khổng Tử. Mặc dù từ thời Đường đã có người xác định rằng “Gia Ngữ” là một tác phẩm giả mạo, nhưng trong “Chu Tử Ngữ Lục”, ngay sau chương “Nam Dung Tam Phục Bạch Quý Chương”, có câu “Sự việc này được ghi chép trong ‘Gia Ngữ’, nên rất rõ ràng,” cho thấy Chu Tử cũng công nhận tính chân thực của các tài liệu trong “Gia Ngữ”.
Vì Chu Tử hiện nay được các học giả tôn sùng như một vị thánh nhân, nên ông hoàn toàn dám sử dụng những gì mà ông ấy đã từng sử dụng.
Ông liền kể lại chi tiết về lý do Khổng Tử gặp nạn tại Trần và Thái, cũng như cuộc đối thoại chi tiết giữa ông và Tử Lộ vào thời điểm đó: Sau khi rời Vệ Linh Công, Khổng Tử được Vua Chiêu của nước Sở mời đến Sở. Các quan lại của Trần và Thái cho rằng nếu Khổng Tử giữ chức vụ tại Sở và chỉ trích những điều sai trái trong xã hội, thì điều đó sẽ gây hại cho hai quốc gia này, vì vậy họ đã cử quân đội để ngăn cản ông.
Khổng Tử đã sống trong tình trạng thiếu thức ăn suốt bảy ngày, không có sự giúp đỡ nào từ bên ngoài; những người đi theo ông đều bị bệnh, và các học trò của ông cũng bắt đầu nghi ngờ về “đạo” mà ông theo đuổi. Tuy nhiên, ông vẫn tiếp tục giảng dạy một cách hào phóng, không ngừng chơi đàn và hát ca. Ông còn mời các học trò riêng ra để thảo luận, hỏi liệu “đạo” của mình có thể được thực hiện trên thế giới này hay không, và tại sao lại phải gặp nạn như vậy. Dựa trên câu trả lời của Tử Lộ, Tử Cống và Nhãn Hồi, ông đã tiếp tục giảng dạy cho họ.
Câu hỏi của Tử Lộ trong phần “Vệ Linh Công hỏi Khổng Tử về Trần” cũng xuất phát từ đây.
Sau khi giải thích đoạn văn gốc trong “Luận Ngữ”, đến lượt ông giải thích câu hỏi đó. Cách giải thích của Chu Tử trong “Chu Tử Ngữ Lục” và trong “Gia Ngữ” đều tương tự nhau, đều nói rằng vào
Sau đó, ông lại giải thích theo “Đại Toàn” tại sao lại phân thành ba môn học là ngôn ngữ, chính trị và văn học: Ngôn ngữ có nghĩa là giỏi trong việc sử dụng lời nói; chính trị có nghĩa là giỏi hỗ trợ vua trong việc quản lý dân chúng; còn văn học thì có nghĩa là hiểu rõ ý nghĩa của thi ca, kinh sách, lễ nghi và âm nhạc.
Khổng Tử đã phân loại các điểm mạnh của các học trò thành bốn môn học này, và khi giảng dạy, ông luôn áp dụng phương pháp phù hợp với từng cá nhân để giúp họ đạt được thành tựu riêng. Và mười vị triết gia kia chính là những người xuất sắc nhất trong bốn môn học này.
Mặc dù mọi người đều thuộc lòng danh tính của mười người này, nhưng khi giảng dạy, để kéo dài thời gian, vẫn cần phải giải thích chi tiết. Dù các sinh viên dưới lớp có cảm thấy nhàm chán đến đâu, ông vẫn rất nhiệt tình trích dẫn thông tin về danh tính và những hành động phù hợp với từng môn học của mười vị triết gia này từ “Sử Ký • Truyện Các Học Trò Của Khổng Tử”.
Sau khi giải thích xong, ông lại trích dẫn câu nói ở đầu chương: “Khổng Tử nói: Có tất cả bảy mươi bảy người đã hoàn thành việc học”, và tiếp tục dẫn lời của Trình Tử trong đó nói rằng “Những người xuất sắc trong trường học của Khổng Tử không chỉ có thế”. Truyền thống Nho giáo chính thống được truyền lại qua Tăng Tử, Tử Tư… Nhưng trong số mười vị triết gia được liệt kê trong chương này, không có Tăng Tử – người đã truyền bá giáo lý Nho giáo. Vì vậy, việc dẫn lời của Trình Tử trong đoạn văn này được coi là một lập luận để cho rằng việc phân loại mười vị triết gia theo bốn môn học chỉ là quan điểm thông thường, không đáng được chấp nhận.
Khi giảng đến đây, buổi học cuối cùng cũng kết thúc. Nếu muốn tiếp tục tranh luận, có thể còn có thể dẫn ra lời của Từ Càn, một trong Bảy Nhà Văn Thời Kiến An, trong “Trung Luận • Chương Trí Hành” – ông nói rằng Tăng Tử “không xứng đáng được xếp vào hàng ngũ bốn môn học này vì tài năng của ông không bằng họ”. Sau đó, có thể còn có thể nói rằng Tăng Tử đã truyền lại người xuất sắc hơn nữa trong môn “đức hạnh”, từ đó chứng minh rằng tài năng và đức hạnh của Tăng Tử vẫn rất lớn lao… Tuy nhiên, sau khi giảng đến đây, thời gian đã khá dài; việc tiếp tục tranh luận cũng không còn ý nghĩa gì nữa, vì vậy ông quyết định kết thúc bài giảng, cúi chào và báo với các giáo viên rằng mình đã hoàn thành phần giảng của mình.
Quách Tế Giám mỉm cười và khen ngợi: “Thật là không sợ hãi trước đám đông; việc chuẩn bị cho buổi giảng này cũng rất kỹ lưỡng.”
Phí
Thôi Hiệp nói một cách bình tĩnh: “Chính là trước mặt giáo viên và các bạn học mà tôi không sợ hãi. Nếu tôi không sai, thì không sợ phải giảng lại; nếu tôi sai, giáo viên sẽ ngay lập tức chỉ ra cho tôi biết, và tôi có thể sửa sai ngay lập tức. Điều này thật tốt, tại sao lại phải sợ chứ?”
Quý Giáo Chủ cười nói: “Đúng vậy, thanh niên phải có tinh thần như vậy mới được. Nhìn thấy cậu ấy, tôi lại nhớ đến Tử Trùng. Chương tiếp theo, chúng ta sẽ gọi cậu ấy lên để cùng nhau giảng, sẽ rất thú vị đấy.”
Thầy trưởng tu viện liền gọi Phí Hoàng lên.
Thôi Hiệp đi xuống, vừa đúng lúc gặp anh ta ở phía trước sân khấu, liền cúi chào anh ta và nhìn anh ta một cách thông cảm. Có vẻ như Fei Jiuyuan không hề cảm thấy phiền khi phải lên sân khấu giảng dạy; anh ta cúi đầu đáp lời, sau đó bước lên sân khấu với tinh thần phấn khích để giảng chương tiếp theo: “Tử Viết: ‘Hui không phải là người giúp đỡ tôi. Anh ta luôn nói ra tất cả những gì tôi nói.’”
Anh ta giảng rất tự nhiên, giọng nói vang dội, nói nhanh một chút, cho thấy tư duy của anh ta rất nhanh nhẹn, và kiến thức về kinh sách trong lòng anh ta cũng rất sâu rộng. Những sinh viên khác lên giảng sau đó đều không giỏi bằng anh ta; Thôi Hiệp còn gần như lơ là việc ghi chép, chỉ ghi lại những phần trích dẫn, còn những phần giải thích do chính các sinh viên đó thêm vào thì bỏ qua hết.
Ngày hôm đó trôi qua trong không khí học tập; những nội dung đã được giảng qua thì sẽ không được giảng lại nữa. Thôi Hiệp yên tâm nghe giảng suốt nửa ngày, đến trưa mới quay về phòng tu viện lấy giỏ bánh chưng để chia cho các bạn học. Khi đi ra ngoài Hội trường Thành Nghĩa, anh ta thấy vài sinh viên đang tụ tập dưới gian hàng, có vẻ như đang xem cái gì đó.
Chẳng lẽ là đã treo bảng điểm lên rồi sao?
Thôi Hiệp nhớ đến Fei Jiuyuan mà mình đã gặp khi giảng dạy, cũng rất tò mò muốn biết anh ta viết được như thế nào, liền chen vào để nhìn những bảng điểm được treo trên tường.
Nhìn vào chữ viết, tất cả đều là kiểu chữ Âu; có vẻ như là các giáo viên trong trường đã sao chép lại, không thể phân biệt được ai là người viết, và tên của họ cũng đã bị che đi. Anh ta không muốn chen vào quá mức, nên chỉ hỏi từ phía sau: “Bài viết này của ai vậy? Tôi có thể xem được không?”
Người đứng phía trước không ngẩng đầu lên mà trả lời: “Là của Âu Thời Chấn… Đừng chen nữa, bây giờ đang sao chép, sau khi sao xong sẽ chia cho mọi người sao chép tiếp.”
Cũng có người tốt bụng trả lời: “Không chỉ
Sau khi cảm ơn họ, anh vẫn quyết định đi lấy chiếc bánh chưng của mình ở phòng học. Anh đi dọc theo hành lang; chưa đi được vài bước thì nghe thấy có người đang đọc: “Thánh nhân trong việc tuân theo lễ nghi và âm nhạc, đã trình bày những gì mà con người thời đó coi trọng, đồng thời thể hiện con đường mà bản thân mình nên theo.” Những lời khen ngợi ấy vang lên, nói rằng câu văn này được viết rất phù hợp với chủ đề, đầy tính cân bằng và hài hòa.
Anh cũng thấy rằng câu văn đó thực sự hay; bắt đầu một cách tuyệt vời, và sau này sẽ còn nhiều không gian để phát triển nội dung. Anh muốn nghe thêm vài câu nữa, nhưng nhóm người đó chỉ tập trung vào phần bình luận về câu mở đầu mà thôi. Khi họ gần như hoàn thành việc bình luận, họ chuẩn bị bắt đọc phần tiếp theo, thì bỗng nhiên có một giọng nói không mấy hòa hợp xen vào:
“Dù câu văn này được viết khá công phu, nhưng ba câu mở đầu kéo dài quá lâu, thiếu sức mạnh. Theo tôi, bài viết ‘Thánh nhân chỉ ra những sai lầm trong việc con người thời đó coi trọng văn hóa, và chỉ ra con đường đúng đắn để áp dụng chúng’ mới được viết sâu sắc và rõ ràng hơn.”
Câu văn đó… đó là do anh viết! Tại sao nó lại bị đem ra để mọi người bình luận? Tại sao lúc nãy anh không chạy away ngay mà lại ở lại đây để nghe người ta đọc bài viết của mình?!
Chưa có truyện phù hợp.