lore

Chương 42

11,751 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Thôi Hiệp Một đệ tử được truyền thừa trực tiếp như vậy, đương nhiên sẽ được đối xử khác biệt so với người khác. Sau khi giao bài tập cho các học sinh khác, ông Lin bảo họ tự học, còn mình thì dẫn Thôi Hiệp vào căn phòng có lò sưởi để ông ta ngồi bên cạnh lò và được hướng dẫn riêng.

Hai người thầy trò này đã có sự hiểu biết sâu sắc với nhau; mục đích của việc học là để vượt qua kỳ thi tuyển sinh này. Vì vậy, thông thường Thôi Hiệp không hề chú trọng nhiều đến việc học thơ: việc viết thơ và viết văn có yêu cầu khác nhau; câu thơ cần phải ngắn gọn, trong khi những câu đối trong văn xuôi lại cần phải được viết một cách uốn lượn, mềm mại. Nếu học quá nhiều thơ của các nhà thơ tài ba, rất dễ ảnh hưởng đến cấu trúc câu trong văn xuôi.

Ông Lin bắt đầu từ bài tập “Đề trước” mà Thôi Hiệp đã viết: “Bài văn bạn viết có điểm tốt là luôn tuân theo nguyên tắc của các bậc hiền triết, từ ngữ sử dụng cũng đều có cơ sở trong sách vở cổ, đó là con đường chính thống. Tuy nhiên, tôi thấy rằng các câu từ của bạn chưa đủ tinh tế và mềm mại; bạn chiếm ưu thế bằng cách sử dụng ngữ điệu, giống như đang theo con đường của văn xuôi cổ đại thời Đường và Tống.”

“Nhưng văn xuôi thời đại này là loại văn được viết để dành cho các giám khảo hiện tại. Nếu các giám khảo không thích văn cổ đại, họ sẽ coi bài văn của bạn quá mộc mạc. Vì vậy, những câu đối trong phần chính của bài văn phải được viết một cách công phu và đẹp đẽ, để làm giảm bớt ấn tượng rằng nội dung bài văn quan trọng hơn cách diễn đạt.”

Thôi Hiệp lắng nghe một cách chăm chỉ và thành thật thừa nhận: “Khi mới đến huyện này, ngài huyện lệnh đã nói rằng văn xuôi thời đại này bắt nguồn từ văn cổ đại, và yêu cầu tôi học thuộc lòng tập ‘Tuyển tập văn của Sáu vị tiên sinh’ của ông Zou Yangzi. Có lẽ vì tôi đã học quá nhiều bài văn cổ, nên khi viết, tôi vô thức mang theo dấu ấn của văn cổ đại.”

Ông Lin hỏi nhẹ nhàng: “Bạn đã học thuộc lòng bao bài rồi?”

Anh ta hạ mắt nhìn những trang giấy trắng tinh và trả lời: “Tôi đã học thuộc lòng hết tất cả rồi.”

Tập ‘Tuyển tập văn của Sáu vị tiên sinh’ gồm tổng cộng 320 bài, anh ta bắt đầu học từ cuối tháng 8 âm lịch. Ban đầu, anh ta kiên trì học thuộc lòng 3 bài mới mỗi ngày; sau vài tháng, do bận rộn với bài tập ở trường, số lượng bài học thuộc lòng giảm xuống còn 2 bài mỗi ngày, và mãi đến kỳ nghỉ đông anh ta mới học xong tất cả. Anh ta không chỉ học thuộc lòng một lần mà

Chỉ là đến phần văn bản chính, khi so sánh các câu với nhau, cần phải viết một cách ngăn nắp, chặt chẽ, giảm bớt lời thừa và chú trọng đến âm điệu, nhịp điệu của văn bản. Văn cổ có những ưu điểm riêng, còn văn hiện đại cũng vậy; không nên chỉ tôn thờ cái cổ mà coi thường cái hiện đại.”

Thôi Hiệp Sự kính trọng đối với thể loại văn bài kiểu Bát Cổ của anh ta còn lớn hơn cả đối với văn cổ. Dù sao thì anh ta cũng đã từng học văn cổ một cách rời rạc từ thời trung học; còn thể loại văn Bát Cổ này thì anh ta mới chỉ học được một ít trong hơn hai mươi năm qua, làm sao dám coi thường nó được? Anh ta trả lời một cách rất nghiêm túc: “Học trò đã hiểu rồi, sau này chắc chắn sẽ chú trọng hơn đến việc trau chuốt từ ngữ và cấu trúc văn bản.”

Ông Lin tiếp tục nói: “Nhưng cũng không nên trau chuốt quá mức; nếu làm cho văn bản trở nên quá mềm mại, hoa mỹ thì lại thành ra thứ văn bản tầm thường.”

…Đây là tình huống khó xử phải không?

Nếu không trau chuốt thì không đúng, nhưng nếu trau chuốt quá mức thì cũng không đúng nữa… Vậy thì phải viết như thế nào đây? Viết văn hiện đại thật sự giống như việc thiết kế một kế hoạch cho khách hàng vậy; chưa kịp bắt đầu viết đã cảm thấy bối rối rồi!

Ông Lin thở dài một cách đầy suy tư: “Khi bước vào phòng thi, tất cả phụ thuộc vào việc bạn có may mắn gặp phải người chủ trì kỳ thi yêu thích thể loại văn bài nào hay không. Nếu may mắn, bạn có thể viết một cách mơ hồ mà vẫn đỗ; còn nếu không may mắn, thì giống như một cô dâu mới vào nhà chồng mà chồng lạnh nhạt, mẹ vợ khắt khe… Không đẹp, không trang nghiêm, không sử dụng các điển tích, cũng không nên sử dụng… Làm thế nào cũng sai cả.”

Trên khuôn mặt luôn nghiêm túc của ông, bỗng nhiên xuất hiện vẻ buồn bã, như thể ông đang nhớ về một vị giám khảo nào đó đã từng khiến ông gặp khó khăn… Thôi Hiệp Không nhịn được, anh ta liếc nhìn ông ấy một cái. Khi ông ấy nhận ra điều đó, ông liền dùng cớ uống trà để che giấu biểu cảm của mình và nói nhẹ nhàng: “Vì ông huyện quý mến bạn như vậy, chắc chắn bạn sẽ không gặp khó khăn gì trong kỳ thi huyện. Tuy nhiên, trong kỳ thi phủ và kỳ thi đạo, bạn cần phải suy nghĩ kỹ hơn về những bài văn mà ông huyện và các quan chức giáo dục thường viết, và cố gắng phù hợp với sở thích của họ.”

Khi ông Lin nói đến đây, Thôi Hiệp bỗng nhiên nhớ ra rằng ông huyện Qi cũng rất thích viết vă

May mắn thay, ông Lin cũng đang chìm đắm trong những nỗi oán giận dành cho không biết là vị giám khảo nào hay chính bản thân cuộc kỳ thi ấy, nên ông không để ý đến sự bất thường của Thôi Hiệp.

Ông này cầm bút ghi lại vài câu ngẫu nhiên; khi ông Lin tỉnh táo trở lại và thấy rằng Thôi Hiệp đã ghi chép lại những yêu cầu mình đã nói, ông liền gật đầu đồng ý và tiếp tục giảng: “Văn bài của người xưa được chia thành hai loại: văn biểu và văn tự sự; trong văn thời sự, cũng có phần biểu và phần tự sự. Phần mở đầu, từ việc đề cập đến chủ đề đến việc bắt đầu trình bày, thuộc về văn tự sự; phần giữa gồm các câu đối xứng với nhau, tương tự như văn biểu của người xưa, nhưng yêu cầu về sự đối xứng không quá nghiêm ngặt; chỉ cần nội dung các câu đối xứng với nhau là được. Giữa các câu đối này, lại có những câu tự sự nối liền, và cuối cùng cả bài văn kết thúc bằng một đoạn văn tự sự. Đây chính là cấu trúc hoàn chỉnh của một bài văn mang tính triết lý.”

Lần này, ông không dùng tập thơ của Trình Mạch để cho Thôi Hiệp xem, mà viết riêng một bài văn mẫu ngắn để minh họa: “Một bài văn cần phải phản ánh rõ ràng chủ đề, cần phải có những luận điểm được trình bày thông qua ngôn từ của người xưa, và tất cả những điều này đều được thể hiện trong những câu đối xứng kia. Trong số đó, một hoặc hai câu đầu tiên sẽ nối tiếp với phần mở đầu của bài văn, tức là phần ‘nối’ trong cấu trúc ‘bắt đầu – tiếp nối – chuyển hướng – kết thúc’ mà người xưa đã nói đến. Khi viết, cần phải tập trung vào những khía cạnh ẩn dụ chứ không phải những chi tiết cụ thể, cần phải dựa trên chủ đề để đưa ra những luận điểm của mình, từ đó tạo nên sức mạnh cho toàn bộ bài văn.”

Bài văn mà ông Lin viết lấy từ “Luận Ngữ – Bát Nhị”, với tiêu đề “Tử viết rằng nhạc ‘Shao’ vừa đẹp vừa tốt”. Hai câu đầu tiên trong bài văn này chính là phần nối tiếp với phần mở đầu, giải thích ý nghĩa của câu “Nhạc ‘Shao’ thể hiện rõ ràng công lao vĩ đại của Đại Thùy”; không hề sử dụng từ “đẹp”, nhưng lại miêu tả toàn bộ vẻ đẹp của nhạc ‘Shao’ thông qua âm thanh của các loại nhạc cụ và vũ điệu của các vũ công, từ đó làm nổi bật phần đầu tiên của tiêu đề “Nhạc ‘Shao’ vừa đẹp vừa tốt”.

Trước khi du hành xuyên thời gian, Thôi Hiệp từng nghĩ rằng nhạc ‘Shao’ chỉ là một bản nhạc cụ, và khi đọc câu “Khi Tử ở Kinh nghe nhạc ‘Shao’, ba tháng trôi qua mà ông không còn cảm giác thèm thịt nữa”, ông ch

Chỉ cần vẽ một đường ngón tay qua những câu văn rời rạc phía dưới, ông nói: “So sánh kiểu ‘một hai’ giúp chúng ta nêu bật tựa đề ngay từ đầu; còn so sánh kiểu ‘ba bốn’ thì có thể dùng ba bốn câu văn rời rạc để làm nổi bật chủ đề, khiến toàn bộ bài viết hòa quyện thành một thể thống nhất, tránh tình trạng lỏng lẻo và kéo dài. Nếu phần mở đầu đã nêu rõ tựa đề, thì cũng có thể bỏ qua không cần thiết.”

Sau những câu văn rời rạc, lại tiếp tục một cặp câu đối xứng với nội dung của so sánh kiểu “một hai” – ngày nay người ta vẫn gọi đây là so sánh kiểu “ba bốn”.

Trong hai so sánh này, âm thanh của nhạc Shao được so sánh với tiếng kêu của chim phượng hoàng, còn điệu múa Chín Shao thì được so sánh với cảnh hàng trăm loài thú nhảy múa theo nhịp điệu đó. Nhìn một cách tổng quát, so sánh kiểu “ba bốn” chỉ đơn giản là tiếp nối so sánh kiểu “một hai”, để phát triển hết ý nghĩa tuyệt vời của từ “Shao” trong tựa đề; tuy nhiên, tiếng kêu của phượng hoàng và cảnh các loài thú nhảy múa cũng mang những ý nghĩa khác trong các kinh sách cổ đại – chúng được dùng để biểu thị thời đại của những vị vua thánh thiện.

Vì vậy, hai câu này không chỉ miêu tả âm thanh và điệu múa của nhạc Shao mà còn có vai trò nối liền phần trước với phần sau, mở ra ý nghĩa sâu sắc hơn của bài viết về nhạc Shao.

Ông Lin lắc đầu nhẹ nhàng, thầm ngâm nga hai câu văn ấy một cách tự hào, rồi giải thích: “So sánh kiểu ‘ba bốn’ chính là xương sống của toàn bộ bài viết; nó nối liền phần trên với phần dưới, giúp chuyển từ nửa trên của tựa đề sang nửa dưới một cách thuận lợi và chắc chắn. Có thể sử dụng hai ba câu, hoặc năm sáu câu, nhưng không nên quá dài. Sau đó, có thể dùng thêm vài câu văn rời rạc để chuyển tiếp sang phần nửa dưới của bài viết. Năm sáu câu này có thể coi là phần bổ sung cho so sánh kiểu ‘ba bốn’, giúp trình bày hết ý nghĩa của phần nửa dưới.”

“Hai câu này chính là phần ‘kết thúc’ trong nguyên lý ‘bắt đầu – tiếp nối – chuyển tiếp – kết thúc’; chúng có thể tiếp nối nội dung của so sánh kiểu ‘ba bốn’, hoặc còn có thể giải thích sâu hơn về chủ đề. Khi bắt đầu so sánh kiểu ‘năm sáu’, nên sử dụng những từ ngữ mơ hồ để nối liền với phần trước, như ‘gãi’, ‘vì’, ‘nếu như vậy’, ‘do đó’; nếu không muốn tiếp nối trực tiếp với so sánh kiểu ‘ba bốn’ mà muốn mở ra ý tưởng mới, thì có thể sử dụng những từ như ‘và’, ‘hơn nữa’, ‘hoặc có người nói rằng’.”

Trong bài vi

Văn về thời sự, chính là những bài viết mới mẻ, khi thi cử phải tuân theo mô hình văn bản mới nhất để làm bài; khi học, chỉ nên học cách suy nghĩ và kỹ thuật viết của người đi trước, đừng học những cấu trúc lỗi thời.”

Nói đến đây, vẻ mặt của ông Lin hoàn toàn thoải mái, có vẻ như đã giảng xong bài học, ông đứng dậy, vươn vai ra và quay lại nói với anh ta: “Phần kết luận thì tùy bạn tự sáng tạo; có thể dùng vài câu, cũng có thể dùng hàng chục câu… Hãy thể hiện suy nghĩ riêng của mình theo đề bài, không cần phải bắt chước người khác.”

Thôi Hiệp ghi chép đầy một trang giấy, sau đó cũng vươn vai và tiếp tục đọc kỹ bài viết của ông Lin.

Ông Lin đi quanh phòng vài vòng để xoa dịu cơ thể; thấy mặt trời gần lên đỉnh đầu, bụng cũng bắt đầu réo rít, ông liền bảo anh ta: “Hôm nay giảng đến đây thôi, về nhà hôm nay hãy dùng bài này làm đề tài để viết một bài tương tự. Tôi không yêu cầu bạn phải viết được một bài hay ngay lập tức, chỉ cần cấu trúc chính xác, câu từ chuẩn xác là được.”

Thấy Thôi Hiệp đồng ý một cách nhanh chóng, ông lại nhớ đến một việc, bước chân dừng lại, chỉ vào tập văn mẫu trên bàn và bảo: “Vì bạn đã có thể thuộc lòng toàn bộ tập văn của sáu nhà văn nổi tiếng, sau này hãy lấy thêm các bài văn của những nhà văn đương đại nổi tiếng khác về học, để cảm nhận cách họ sử dụng từ ngữ và cấu trúc văn bản.”

Trong những ngày qua, mặc dù Thôi Hiệp tập trung vào việc học “Tứ Thư”, nhưng vẫn không bỏ qua các bài văn cổ của Tám Đại gia thời Đường-Tống; mỗi tối trước khi ngủ, anh ta đều ôn lại vài bài văn theo quy luật ghi nhớ, và sau khi thành thói quen, việc học thuộc lòng các bài văn trở nên dễ dàng hơn. Hơn nữa, vì văn kiểu Bát Cổ có cấu trúc rõ ràng – bao gồm phần mở đầu, phần phát triển và phần kết luận – nên việc học thuộc lòng loại văn này còn dễ dàng hơn so với văn xuôi thông thường.

Anh ta lấy một cuốn tập văn chưa từng đọc trước đây, xin mượn từ ông Lin và tiếp tục tự học tại lớp học.

Đến giờ ăn trưa, người bạn mang đến cho anh ta những chiếc bánh bao hấp mới nướng cùng với một số món ăn như thịt xào, thịt băm, thịt hầm đỏ và đậu phụ hầm với rau xanh. Nhưng ánh mắt anh ta vẫn dán chặt vào trang giấy, đầu óc đang suy nghĩ về cách sử dụng từ ngữ đối xứng trong bài viết; anh ta chỉ cắn một miếng bánh bao, nhúng vào nước canh rồi nuốt vào miệng, không hề biết mình đang ăn gì.

Khi Khổng Tử nghe bản nhạc “Shao”, ba

1/1 0%