lore

Chương 30

13,076 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Ông Lâm lại gọi người khác lên để giải thích chi tiết về nội dung kinh điển và sửa các bài viết đã hoàn thành. Thôi Hiệp cầm theo cuốn sách luyện chữ và tập bài văn mẫu, một cách trơ trừng quay trở lại chỗ ngồi để sao chép các đề bài. Khi xuống dưới, những học sinh được ông yêu cầu chú ý đến tên mình đều lén nhìn ông; lần này, đến lượt ông tỏ ra lạnh lùng và áp đặt “bạo lực lặng lẽ” trong trường học.

Bài viết đầu tiên là của Vương Ác, vừa rồi ông Lâm đã giảng về nó; bài thứ hai cũng của anh ta, có tựa đề là “Chu Công kết hợp với các dân tộc man rợ để xua đuổi những con thú hung dữ, khiến cho dân chúng được yên bình”; bài thứ ba là của Lý Đông Dương, gồm ba đoạn về “Từ thời Yao, Shun cho đến thời Thang”. Anh ta trải một tờ giấy lớn ra, đặt thêm một tấm đệm phía dưới, sau đó cẩn thận sao chép đề bài và phần phân tích nội dung của bài mẫu, đồng thời ghi chép lại câu mở đầu và kết thúc của hai bài đầu tiên, cũng như toàn bộ nội dung ba đoạn của bài thứ ba bên cạnh đề bài. Cuối cùng, anh ta dùng bút son đỏ để ghi thêm các chú giải của Trình Hòa và Chu Hy dưới phần văn bản chính.

Vào thời đại đó, phần phân tích nội dung các bài viết thường chỉ gồm ba đến bốn câu. Phần phân tích của Vương Ác cho bài đầu tiên gồm hai câu, còn bài thứ hai gồm ba câu: “Nói về các bậc thánh nhân xưa, họ loại bỏ những tai họa lớn cho thế giới và hoàn thành những công trình vĩ đại.” Còn đối với bài của Lý Đông Dương về “Từ thời Yao, Shun đến thời Thang, mỗi năm năm trăm năm lại có người kế thừa đạo lý thiêng liêng”, phần phân tích cũng gồm ba câu: “Sự xuất hiện của các bậc thánh nhân có quy luật nhất định; họ có thể truyền đạo lý của mình cho người đồng thời, hoặc cho những thế hệ sau.”

Anh ta sao chép đề bài lên giấy, ghi nhớ toàn bộ nội dung bài viết vào đầu óc mình, sau đó lên trả cuốn tập bài văn mẫu cho thầy. Quay trở lại chỗ ngồi, anh ta nhanh chóng bắt đầu suy nghĩ về phần phân tích nội dung cho bài “Chu Công suy nghĩ về việc kết hợp với ba vị vua để thực hiện bốn việc lớn”.

Phương pháp phân tích của tác giả gốc Vương Ác là theo dõi trình tự sự kiện; vì vậy, anh ta cũng quyết định bắt đầu bằng cách này. Trước đó, trong đoạn văn gốc có từ “Mạnh Tử nói rằng…”, và Vương Ác cũng đã sử dụng từ “đại hiền”; vì vậy, anh ta cũng sẽ dùng từ “đại hiền” trong phần phân tích của mình. Như vậy, mọi thứ sẽ trở nên dễ dàng hơn; Chu Công và ba vị vua đều là những bậc thánh nhân.

“Luận v

Anh ta tạm thời gác lại bài giải đã hoàn thành, và áp dụng phương pháp “phá ngược”, bắt đầu từ những từ cuối cùng trong đề bài để giải mã nó.

Bốn việc, ba vị vua, Chu Công, Mạnh Tử… Làm thế nào để giải mã chúng theo hướng này?

Anh ta không thể nghĩ ra cách nào, liền mở sổ ghi chép lại xem lại bài giảng. Bỗng nhiên, anh ta nhìn thấy câu “Phần trên giải mã ý nghĩa của đề bài, phần dưới giải mã cấu trúc của đề bài”. Ý tưởng của anh ta bỗng nhiên sáng tỏ – có nghĩa là, chỉ cần đảo ngược hoàn toàn cách giải mã vừa rồi, thì nó sẽ hoàn toàn phù hợp với tiêu chuẩn “phá ngược” rồi!

Tuy nhiên, chỉ đơn thuần đảo ngược thứ tự các câu trong cách giải mã thì kết quả thu được sẽ trở nên cứng nhắc và kỳ lạ, không giống như văn bản thông thường. Vẫn cần phải hiểu rõ ý nghĩa của đoạn này qua lời giải thích của Chu Công, đồng thời cũng cần điều chỉnh cách giải mã của đề bài cho phù hợp hơn; không thể chỉ dựa vào việc dịch từng từ một mà cần phải tổng hợp lại một cách có hệ thống…

Sau một thời gian dài, anh ta viết xuống một dòng mới trên giấy: “Đạo không thay đổi theo thời đại; đây chính là lý do tại sao các bậc hiền triết luôn nói về đức hạnh của các vị thánh tiên, và những người sau này tiếp nối truyền thống đó.”

Câu trên được lấy từ lời giải thích của Chu Công về “thời đại thay đổi, nhưng nguyên lý vẫn không thay đổi”, ý nói rằng đạo của Chu Công và đạo của ba vị vua thực chất là liên tục và thống nhất với nhau; còn hai câu sau, khi viết về ba vị vua trước rồi mới đến Chu Công, cũng có thể coi là một cách “phá ngược”.

Tiếp theo là phương pháp “giải đúng” và “giải sai”. “Giải đúng” là theo đúng ý nghĩa ban đầu của đề bài để giải mã; nó khá giống với phương pháp “giải thuận”, chỉ là không yêu cầu phải tuân theo thứ tự cụ thể nào trong việc giải mã. Còn “giải sai” là giải mã theo hướng ngược lại với ý nghĩa của đề bài – ví dụ, nếu đề bài là “Chu Công suy nghĩ về việc kết hợp đức hạnh của ba vị vua để thực hiện bốn việc”, thì cách “giải sai” sẽ là xem xét điều gì sẽ xảy ra nếu Chu Công không suy nghĩ về việc kết hợp đức hạnh của ba vị vua để thực hiện bốn việc đó?

Nhưng ông Lin vừa mới giảng rằng, việc lặp lại những gì các vị thánh đã nói trước đó, hoặc đưa ra những ý kiến chưa từng được các vị thánh đề cập đến trong quá trình giải mã, đều được coi là không đạt yêu cầu.

Với những yêu cầu nghiêm ngặt như vậy, liệu có thể tạo ra những cách giải mã sai lệch về hành vi của Chu Công hay không?

Cuối cùng, anh ta bắt đầu nghi ngờ rằng, có lẽ

Thôi Hiệp Chỉ viết được chín bài giải đề thôi; phần thời gian còn lại, cậu đã chăm chỉ luyện tập viết thể văn “đài các thể” trên hai mươi trang, và học thuộc lòng năm bài cuối cùng của tập thơ “Nam Hữu Gia Ngư Chi Thập”. Còn Trở về nhà thì vẫn không mang theo bất kỳ bài tập về nhà nào.

Nhưng vì đã bắt đầu học viết văn kiểu “bát cổ”, những tập văn thời sự mà Lưu Sư gia từng tặng trước đây cũng nên bắt đầu học thuộc lòng ngay, cùng với bộ tập “Lục Tiên Sinh Văn Tập” mà Quan huyện Kỷ đã dành riêng cho cậu… Có quá nhiều điều cần học, quá nhiều việc phải làm; thời gian thật sự không đủ.

Cậu thở dài trước bức tường đầy sách rồi lấy ra một quyển tuyển tập các bài văn hay dùng trong kỳ thi huyện để xem qua.

Đồng sinh Những đề bài trong kỳ thi đều là những câu hỏi nhỏ, được giải đề một cách tinh tế và kỳ lạ; phong cách này khá khác với cách cậu hiện đang áp dụng để giải thích nội dung các kinh điển. Nhưng vì kỳ thi huyện luôn yêu cầu giải đáp những câu hỏi nhỏ như vậy, nên dù muốn hay không, cậu cũng phải làm quen với phương pháp giải đề này. Vì vậy, cậu kiên nhẫn mở quyển sách ra, chỉ đọc phần đề bài và phần giải đề, sau đó in chúng vào file PDF để có thể suy ngẫm bất cứ lúc nào.

Những bài văn xuất sắc này chỉ cần đọc để học hỏi thôi; còn các tập văn của Tám Đại gia thời Đường-Tống thì cần phải học thuộc lòng. Là một người du hành thời gian, cậu không biết cách viết văn cổ, nên chỉ có thể bắt đầu từ việc học thuộc lòng – như người ta thường nói: “Đọc ba trăm bài thơ Đường thấu đáo, dù không biết viết thơ cũng có thể đọc được.” Nếu học thuộc lòng nhiều, sau này cậu cũng có thể tự mình viết được, và chỉ cần áp dụng định dạng chuẩn của văn kiểu “bát cổ”, dù không thể nói là viết được tốt nhất, nhưng ít nhất cũng sẽ thành một bài văn hoàn chỉnh.

Thôi Hiệp Dù sao thì cậu cũng đã là một học sinh giỏi trong hơn mười năm; vì vậy, cậu vẫn khá lạc quan về việc học tập. Ngay lập tức, cậu lập ra một lịch trình học tập mới, nghiêm ngặt hơn, và coi như mình đang chuẩn bị cho kỳ thi cao học về văn học “bát cổ”.

Và đó là một kỳ thi cao học khi đang làm việc.

Sau khi đọc vài quyển văn thời sự, cậu đốt vài ngọn nến sáng, tiếp tục ngồi viết trên bàn trong phòng ngủ, vừa suy nghĩ về cách giải đề, vừa cố gắng vẽ những nét chữ mượt mà, uyển chuyển.

Ngày hôm sau khi đến trường, cậu đưa chín bài giải đề mình đã làm cho ông Lâm xem, không nói thêm gì. Sau khi xem

Thôi Hiệp bỗng sáng mắt lên, liên tục gật đầu nói: “Hóa ra là do truyền thống được kế tiếp nhau! Tôi luôn cảm thấy rằng cách hành xử của các vị thánh nhân đều giống nhau, không thay đổi theo sự biến đổi của thời cuộc; chỉ là khi viết ra, người ta đôi khi không chọn được từ ngữ phù hợp mà thôi.”

Ông Lin mỉm cười và nói một cách thoải mái: “Em mới học được vài ngày thôi, đã tích lũy được bao nhiêu lời dạy của các bậc hiền triết trong lòng? Nếu việc viết ra những đoạn văn như vậy quá dễ dàng, thì tất cả những người học sách trên đời này chắc hẳn đều có thể trở thành quan lại cả.”

Ông tiếp tục góp ý cho Thôi Hiệp vài điểm, giúp anh ta sửa đổi và làm cho đoạn văn mở đầu trở nên súc tích hơn. Cuối cùng, ông yêu cầu Thôi Hiệp mang về suy ngẫm kỹ lưỡng câu “Những bậc hiền triết noi theo tâm pháp của các vị thánh nhân, để minh chứng cho sự kế thừa truyền thống” (1).

Sau khi giải thích hết ba đề bài và đưa ra ví dụ về cách viết phần mở đầu, ông Lin nói một cách bình thản: “Tôi thấy em hoàn toàn có thể tự nhận ra những quy luật ẩn giấu trong đó; việc không nói rõ ràng về ba vị vua và bốn sự kiện trong phần mở đầu cũng đã chứng tỏ em có khả năng suy luận. Từ hôm nay trở đi, mỗi lần em viết phần mở đầu, hãy tự mình xem xét liệu nên theo hướng nào – thuận hay nghịch, chính hay phản, rõ ràng hay ẩn giấu – và chỉ cần nộp bốn đoạn văn như vậy là được.”

Ông Lin thực sự là một người phi thường.

Thôi Hiệp trong lòng thầm thán, nhưng trên mặt thì tỏ ra rất kính trọng, và cung kính nhận lấy bài tập mới về nhà.

Một ngày nữa trôi qua trong sự căng thẳng khi học thuộc lòng và làm bài tập. Khi tiếng chuông tan học vang lên, ông Lin cầm sách bước ra khỏi lớp học, và lúc đó các học sinh trong lớp mới bắt đầu trở nên sống động trở lại, tụ tập bạn bè và đi ra ngoài sân.

Triệu Ứng Lân đến gõ vào bàn ông và gọi: “Vào ngày Chương Thanh, sẽ có một buổi họp thơ tại núi Ngạc Cô. Người tổ chức buổi họp thơ là Shen Xiucái, anh họ của sư huynh Ngạc; anh ấy có thể dẫn chúng ta những người Đồng sinh đến đó để xem thử. Anh Cui có muốn đi không?”

Thôi Hiệp ngẩng đầu lên và thấy một chàng trai khoảng mười bảy, mười tám tuổi, mặc bộ đồ Đồng sinh màu trắng, đang nhìn mình với vẻ lo lắng. Chàng trai này trông khá bình thường, thường xuyên thích thảo luận về thơ văn… và chính là người mà Thôi Hiệp nghi ngờ là có ý định bắt nạt mình, làm tổn thương lòng tự trọng của một học sinh yếu kém như mình.

Ánh mắ

Tất cả mọi người đều phải làm thơ sao? Những người đi trước đã học văn học, họ có bao giờ nói về nội dung kinh điển và các bài viết văn học không?

Xung quanh vang lên vài tiếng cười nhẹ; những người lớn tuổi hơn đều nhìn anh ta bằng ánh mắt chứa đựng sự chế giễu lẫn thương hại. Triệu Ứng Lân nhéo môi, im lặng nhìn anh ta một lúc lâu rồi nói: “Anh chưa bao giờ tham gia các buổi thi thơ ở kinh thành à? Buổi thi thơ ấy… chẳng qua cũng chỉ là… mọi người tụ tập trong một sân vườn để uống rượu, ngâm thơ, và mời gái mại dâm cùng ca hát để giải trí mà thôi…”

Thôi Hiệp ngẩng đầu lên, nhìn những người anh trai lớn tuổi kia bằng ánh mắt đầy phản đối. Những người thanh niên kia liên tục chớp mắt, ngừng cười, cúi đầu xuống, dường như đang chờ đợi câu trả lời của anh ta.

Anh ta lại hỏi: “Vậy họ có dạy cách làm thơ không? Hay chỉ là những cuộc đối đáp thơ văn giữa các học giả mà thôi? Như tôi, không biết làm thơ, thì có nên đến đó để uống rượu, nghe nhạc và xem gái mại dâm không?”

Một người anh trai lớn tuổi cười nói: “Làm sao có thể chỉ ngồi ăn uống mà không làm gì cả được? Ít ra cũng phải đối đáp thơ với người khác, thực hiện các trò chơi liên quan đến rượu, và mời các học giả cùng những cô gái học vấn đến đánh giá chứ.” Anh ta nhìn Thôi Hiệp một cái, rồi nói một cách hơi phù phiếm: “Người như anh Cui, đến đó chắc chắn không cần phải làm gì cả; những cô gái học vấn được mời đến, e là sẽ tranh nhau muốn làm bạn với anh đấy…”

Chưa kịp nói hết, anh ta đã bị kéo đi nơi khác. Người anh trai tên Yue nhìn anh ta một cách có vẻ xấu hổ, rồi nói một cách chân thành với Thôi Hiệp: “Anh Cui, em có muốn đi không?” Giọng anh ta trầm thấp và khó khăn khi nói: “Em… chúng tôi có thể giúp em chuẩn bị cho buổi thi thơ này. Đây là một cơ hội rất quý báu; ngay cả Quách Dung – người tài năng nhất của huyện chúng ta – cũng sẽ tham gia. Anh ấy rất học giỏi; ngay cả các giáo viên ở huyện cũng nói rằng anh ấy chắc chắn sẽ đỗ trong kỳ thi này.”

Thôi Hiệp có chút muốn xem thế giới của những người học vấn thực sự là như thế nào, nhưng nghĩ lại thì mình không biết làm thơ, đi đến buổi thi thơ như vậy để làm gì? Chẳng lẽ chỉ để uống rượu, nghe nhạc, và thể hiện mình trước mặt những cô gái học vấn, để trải nghiệm cảm giác yêu đương sớm sao?

Nhưng bây giờ vẫn còn vài ngày nữa mới đến Tết Trùng Thu; nếu có thể tận dụng cơ hội này

Vài người bạn cùng lớp hiểu ý nhau và cười nói: “Đúng vậy, đây là bữa tiệc do gia đình anh trai chúng ta tổ chức; chắc chắn sẽ không thiếu chỗ cho chúng ta đâu. Đến khi bữa tiệc bắt đầu thì mới quyết định cũng không muộn.”

Anh trai chúng ta nói rằng “sẽ thông báo tin tức cho các em út”, sau đó cùng những người bạn kia rời khỏi trường học.

Ngôi nhà của Triệu Ứng Lân ở ngay cạnh nhà của Thôi Gia, vì vậy anh ấy ở lại để giúp Thôi Gia thu dọn đồ đạc và cùng về nhà. Dù cậu bé này có phần ngốc nghếch, luôn tin tất cả những gì người khác nói, nhưng khi tiếp xúc thực sự, anh ta lại là một người vui vẻ, thoải mái và dễ gây cảm tình. Thôi Hiệp rất ấn tượng với cả gia đình cậu bé này, đặc biệt là muốn quan tâm đến người con trai được cả gia đình yêu thương và kỳ vọng như vậy.

Vì vậy, sau khi về nhà, Thôi Hiệp đã nhắc Thái Nguyên rằng vào sáng hôm sau, khi họ đi học, anh ấy sẽ tự mình đến nhà hàng xóm là ông Châu, để báo cáo việc con trai họ có ý định đến những nơi không tốt cho người trẻ.

—Chỉ còn hơn 600 ngày nữa là đến kỳ thi khoa cử năm sau, anh Châu ơi, tôi chỉ có thể giúp anh đến đây thôi.

1/1 0%