lore

Chương 29

12,017 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Trong trường học tư này chỉ có tổng cộng mười lăm học sinh; phần lớn trong số họ đều đến con phố này vào thời điểm gần kỳ thi hương để tiếp xúc với văn học, và rất ít trẻ em chưa biết đọc viết – tất cả đều đã tự nguyện đến học từ sớm. Thầy Linh nhận bài tập của các học sinh một cách vô tâm, đánh giá qua loa vài câu, sau khi mọi người đều đến đủ thì bắt đầu yêu cầu họ lần lượt đọc thuộc lòng.

Thôi Hiệp là người bắt đầu học “Thơ” chỉ sau khi nhập học tại trường này; được coi là một trong những học trò được thầy Linh dạy trực tiếp, lại còn là một người giàu có nên thầy Linh đối xử với anh ta ân cần hơn so với những học sinh khác. Khi ba học sinh tiểu học cuối cùng hoàn thành việc đọc thuộc lòng “Tam Tự Kinh”, thầy Linh liền gọi anh ta lên đọc thuộc lòng.

Không hiểu sao, mỗi lần anh ta đứng lên đọc thuộc lòng hay giảng bài, luôn có vài học sinh lén lút ngước nhìn anh ta; một số khác thì lắc đầu, bắt chước cách anh ta đọc. Nếu không phải vì những người này sau giờ học đều cư xử ngoan ngoãn, chỉ đôi khi thích khoe khoang kiến thức văn học trước mặt anh ta mà thôi, thì anh ta suýt nữa đã nghĩ rằng họ đang muốn bắt nạt người khác.

Nhưng nói cho cùng, việc hàng ngày khoe khoang kiến thức văn học của mình trước mặt những học sinh kém cỏi, liệu có phải là hình thức bạo lực tinh thần không?

Thầy Linh gọi bài “Nam Hữu Gia Ngư” mà hôm qua đã giảng, và trước khi Thôi Hiệp bắt đầu đọc thuộc lòng, thầy vô thức liếc nhìn nhóm học sinh kia. Khi ánh mắt hai người chạm nhau, những học sinh tuổi teen đó vội vàng quay đầu đi, như thể vừa bị bắt quả tang đang gian lận vậy; mặt và cổ họ đều đỏ bừng.

Tch tch… Nhóm học sinh này thật yếu đuối; dù có ý định bắt nạt người khác, nhưng họ cũng không đủ can đảm để làm điều đó.

Thầy Linh lắc đầu trong lòng, sau đó bắt đầu đọc thuộc lòng một cách nghiêm túc: “Nam Hữu Gia Ngư, chưng nhiên zhào zhao… Quân tử hữu tửu…” Khi đọc thuộc lòng, thầy thường xen kẽ giữa nguyên văn và bản dịch; bản dịch trong tập “Thơ Kinh Tập Truyền” thì ngắn hơn so với bốn sách kinh điển khác, nên việc đọc thuộc lòng theo cách này mang lại cảm giác thoải mái và dễ dàng.

Thầy Linh cũng rất đánh giá cao phương pháp đọc này; khi nghe anh ta đọc từ “Nam Hữu Gia Ngư” đến “Đồng Cung”, thầy gật đầu và nói với vẻ hài lòng: “Cách đọc thuộc lòng của em rất tốt, không cần tôi phải nhắc nhở thêm nữa. Sau này em hãy tự ôn lại những phần đã học trước đây; hôm nay chúng ta sẽ không học phần mới.”

Anh ta lùi xuống chỗ ngồi và tiếp tục lắng nghe thầy Linh gọi

Ông Linh cũng ngồi thẳng lưng, nói với anh ta: “Triều đình mở các kỳ thi tuyển chọn nhân tài; những bản phán quyết, sắc lệnh, thông cáo hay các bài luận về tình hình thời sự chỉ là những chi tiết nhỏ mà thôi. Tiêu chuẩn duy nhất để đánh giá là nội dung của Năm Kinh và Bốn Thư. Tôi không muốn nói những lời suông sáo về việc ‘giải thích ý nghĩa sâu sắc của các bậc hiền triết’ – chúng ta, những người học vấn, viết những bài văn này chỉ để có thể đỗ!

“Chẳng hạn như kỳ thi Hội thí năm Xīn Chǒu năm ngoái, bốn nghìn nhân tài từ khắp nơi đã tụ tập về kinh đô. Ngày 9 tháng 2 là kỳ thi Hội thí, ngày 15 tháng 3 là kỳ thi Đình thí; trong khoảng thời gian đó, hơn mười giám khảo phải xem xét ba bài thi của bốn nghìn người. Một giám khảo trong một ngày có thể xem được bao nhiêu bài thi? Họ có thể dành thời gian để đọc kỹ chúng không? Chỉ có thể là lướt qua một cách vội vã, chỉ xem phần đầu của mỗi bài thi mà thôi! Nếu phần đầu bài thi về Năm Kinh không được viết tốt, dù những phần sau được viết rất hay, giám khảo cũng không có thời gian để xem kỹ.”

Ông nói rất hứng thú, giống như đang kể chuyện truyền thuyết với giọng điệu biến đổi, âm điệu hùng tráng; có vẻ như ông muốn đứng dậy trên ghế vậy. Tất nhiên, cuối cùng ông không thực sự đứng dậy. Không chỉ không đứng dậy, giọng nói của ông cũng trở nên nhẹ nhàng hơn, ông nhìn chằm chằm vào học trò và nói một cách nghiêm túc: “Hôm nay, trước hết tôi sẽ giải thích cho em về cách viết phần mở đầu bài thi. Dù việc viết phần mở đầu có vẻ đơn giản, chỉ cần ba bốn câu để nêu bật ý nghĩa của đề bài, nhưng thực ra lại là phần khó nhất. Có câu nói: ‘Trước khi viết bài, bài văn thuộc về tôi; sau khi viết xong phần mở đầu, bài văn mới thuộc về tôi.’ Mức độ sâu sắc của ý tưởng, kiến thức mà bạn sở hữu, và khả năng viết văn của bạn, tất cả đều có thể được thấy rõ qua vài câu đầu tiên đó.”

Thôi Hiệp gật đầu liên tục, đôi mắt mở to hơn bình thường, đôi mí dày của anh ta trở nên nổi bật, như thể được vẽ lên trên mắt vậy. Ông Linh rất hài lòng với thái độ của anh ta, lấy một quyển tập văn của Chu Văn Trịch từ trên bàn, lật qua vài trang, rồi chỉ vào đoạn văn “Chu Công muốn noi gương ba vị vua để thực hiện bốn việc” và nhìn anh ta: “Đây là bài văn giúp Vương Hàn Lâm Kỷ Chi Công (Vương Á) đỗ đầu kỳ thi năm Ất Mùi; hãy xem bài văn này đi, đây chính là mẫu mực của các bài văn xuất sắc trên đời

Trong phần giải thích đề bài, cụm từ “ưu cần tế lệ” chính là được Zhu Xi ghi chú lại, dùng để khen ngợi công việc chăm chỉ của Chu Công trong việc quản lý nhà nước; những hành động tốt đẹp của các vị vua xưa đều được ông noi theo và thực hiện.

Ông Lin gật đầu: “Cậu học rất tốt bốn cuốn sách kinh điển này. Cậu có biết tại sao trong đề bài ban đầu lại dùng tên Chu Công, ba vị vua xưa, nhưng khi giải thích lại lại sử dụng các từ như ‘đại hiền’, ‘tiền thánh’ không?”

“À… có lẽ là vì khi viết phần giải thích, không được sử dụng những cái tên đã có trong đề bài, phải không ạ?”

Cậu hỏi một cách không chắc chắn. Nhưng ông Lin cũng không yêu cầu cậu trả lời, mà tiếp tục giải thích: “Khi giải thích đề bài, không được đề cập đến tên người hay tên vật cụ thể. Ví dụ, ba vị vua thánh, Văn Vương, Chu Công, Khổng Tử đều phải được gọi là ‘thánh’, các nhà triết học thì được gọi là ‘hiền’. Chỉ riêng Mạnh Tử mới có thể được gọi là ‘á thánh’ hoặc ‘hiền’. Những thứ khác như cây cỏ, hoa lá, đồ vật đều có thể được thay thế bằng từ ‘vật’. Nói chung, khi giải thích đề bài, không được viết tên thật của người hay vật xuất hiện trong đề, mà phải dùng những tên gọi khác có trong kinh điển.”

“Ừm… phần giải thích đề bài giống như việc nêu rõ ý nghĩa của đề bài khi viết luận văn hiện đại phải không?” Thôi Hiệp hỏi.

Ông Lin gật đầu nhẹ: “Đúng vậy. Nếu giải thích từng từ, từng ý nghĩa một cách tuần tự theo thứ tự của đề bài, thì gọi là ‘thuận giải’. Ngược lại, nếu giải thích trước sau không theo thứ tự đó, thì gọi là ‘nghịch giải’. Nhưng không chỉ cần giải thích rõ ràng là đủ; quan trọng nhất là phải nắm bắt được ý chính của đề bài, điểm then chốt nằm ở chữ ‘giải’. Nếu giải thích một cách trực tiếp, theo từng từ trong đề bài, thì gọi là ‘minh giải’. Còn nếu không sử dụng từ ngữ trong đề bài mà dùng cách diễn đạt khác để giải thích ý nghĩa, thì gọi là ‘âm giải’. Bài viết của Vương Hàn Lâm này chính là ví dụ về cách minh giải đề bài một cách trực tiếp.”

“Ngoài ra, khi giải thích đề bài, còn có một điều kiêng kỵ lớn, đó là không được đề cập đến những thông tin không có trong đề bài. Ví dụ, trong đề bài này có câu ‘Chu Công suy nghĩ về ba vị vua xưa để thực hiện bốn việc’. Khi đọc đề bài, bạn cần nhớ rõ câu này thuộc bài nào, câu thứ mấy trong Mạnh Tử, sau đó hiểu rõ ý nghĩa của nó trong bối cảnh tổng thể của văn bản. Nhưng khi giải thích đề bài, không được liên hệ đến những thông tin trong phần văn bản liên quan.

“Ví dụ, nếu bạn trong phần giải thích đề cập đến việc

Đúng vậy, nếu học sinh tiểu học viết bài mà hiểu sai đề bài thì sẽ không thể được điểm cao đâu. Với tỷ lệ tuyển chọn chưa đến mười phần trăm như kỳ thi này, nếu trả lời sai đề bài thì thôi thì bị loại thôi; còn những người trả lời đúng và hay thì mới có cơ hội được tuyển chọn.

Thôi Hiệp Có vẻ như ông ấy còn muốn nói thêm nhiều nữa, thế là tôi quyết định xin phép rồi quay lại chỗ ngồi, lấy cuốn sổ tay tự làm ra, nhúng vào mực trong bút mực của thầy để bắt đầu ghi chép.

Thầy Linh rất đánh giá cao thái độ này của tôi, ông đặt tập văn xuôi bên cạnh tôi, chỉ vào phần phân tích đề bài và tiếp tục giảng: “Còn hai điều cần tránh nữa, đó là khi phân tích đề bài, không được làm sai hoàn toàn ý nghĩa của đề bài; điều đó được gọi là ‘lãng quên đề bài’. Hoặc dù đã hiểu đúng ý nghĩa của đề bài, nhưng nội dung phân tích lại được ghép nối một cách vụng về, không hợp lý, thì đó được gọi là ‘phân tích sai đề bài’. Nếu bạn mắc phải hai sai lầm này, có nghĩa là bạn học tốt hơn những người mắc phải những sai lầm khác, nhưng trên bàn thi, bạn cũng sẽ bị loại mà không cần phải xem đề bài.”

Thôi Hiệp Tôi cứ “rào rào” ghi chép vào cuốn sổ nhỏ, khi viết không dám nhìn vào giấy, mà cứ nhìn chằm chằm vào thầy, như thể như vậy sẽ giúp tôi nghe rõ hơn vậy.

Thầy Linh lại lắc đầu và ngâm nga một lần nữa về cách phân tích đề bài của Vương Á, với vẻ say mê: “Phân tích đề bài có ba cách: phân tích từ ngữ, phân tích câu, và phân tích ý nghĩa sâu sắc của đề bài. Trong đó, phân tích từ ngữ là cấp thấp nhất, phân tích câu là cấp trung bình, còn việc phân tích được ý nghĩa sâu sắc của đề bài mới là cấp cao nhất. Bạn là một học sinh tiểu học, không thể so sánh được với những bậc thầy văn chương như Vương Hàn Lâm, nhưng khi phân tích đề bài, bạn cũng cần phải chú trọng đến sự ngắn gọn, hợp lý và uy nghi của văn bản, phải có một dòng văn liền mạch khi phân tích đề bài. Nếu chỉ đổi vài từ trong đề bài rồi ghép nối chúng thành các câu, thì đó là cách làm kém cỏi.”

Ông nói xong một cách hăng hái và đầy nhiệt huyết, rồi đột nhiên cúi đầu hỏi tôi: “Những gì tôi vừa nói có vẻ hơi mơ hồ, bạn còn non nớt, có lẽ chưa thể hiểu hết được. Tôi sẽ giới thiệu cho bạn một số cách phân tích đề bài cụ thể, bạn hãy về sau luyện tập thử, chỉ khi bạn tự mình thực hiện mới có thể hiểu sâu sắc được.”

Thôi Hiệp Tôi cảm thấy như có một kho bài tập về nhà khổ

Đoạn văn trên phân tích từng từ một liên quan chặt chẽ đến câu hỏi này, trong khi đoạn văn sau lại mở rộng ra toàn bộ nội dung chương sách, sử dụng câu “Một tâm hồn luôn lo lắng và cố gắng không ngừng” để kết nối toàn bộ ý nghĩa của chương, nhưng vẫn không đi vào những nội dung ngoài chủ đề, thật là rõ ràng và ngắn gọn. Tất nhiên, khi bạn giải đáp câu hỏi, bạn cũng có thể sử dụng đoạn văn trên để tổng kết ý nghĩa chung của chương, sau đó mới tiếp tục phân tích cụ thể câu hỏi đang xem xét. Chỉ cần cẩn thận, khi giải đáp, bạn có thể sử dụng ý nghĩa của các đoạn văn trước sau, nhưng tuyệt đối không được sai lầm về từ ngữ, tránh việc làm ảnh hưởng đến ý nghĩa chung.

Thôi Hiệp gật đầu lia lịa và ghi chép kỹ lưỡng; bản PDF trong đầu anh ta cũng dần được mở rộng thêm. Sau khi quyết định như vậy, anh ta sẽ đọc lại những điều cần tránh này mỗi khi làm bài tập hoặc thi cử, để tránh mắc sai lầm.

Ông Linh cảm thấy mình đã giải thích đủ rõ ràng, thấy Đồng sinh cũng đã ngừng viết, ông liền yêu cầu cậu ấy đưa ra ghi chú để kiểm tra xem mình có bỏ sót điều gì không. Trong lúc xem ghi chú, ông nói: “Dù rằng những câu hỏi trong bài kiểm tra thử của Đồng sinh đều là những câu hỏi nhỏ, nhưng chúng được tạo thành từ những đoạn văn của các bậc hiền triết được cắt ghép lại với nhau. Nếu người học mới bắt đầu viết văn mà làm những câu hỏi này, họ sẽ dễ bị gò bó trong suy nghĩ. Thay vào đó, bạn nên bắt đầu với những câu hỏi lớn trước, như vậy mới có thể mở rộng tầm nhìn và phát triển khí chất trong văn bản của mình. Tôi sẽ chọn một số câu hỏi lớn từ tập bài văn này để bạn làm bài tập về nhà; bạn hãy phân tích mỗi câu hỏi đó theo ba đến năm cách khác nhau…”

Lời nói của ông bỗng nhiên dừng lại, khóe mắt ông co lại một chút, ông đặt cuốn ghi chú của Thôi Hiệp xuống và tự nhiên chuyển sang chủ đề khác: “Tôi sẽ giải thích cho bạn thêm một phương pháp giải đáp theo hướng ngược lại. Bạn hãy mang về nhà những đề bài và cách giải đáp của ba bài văn đầu tiên trong tập bài văn này, sau đó tự mình thực hành giải đáp theo cả hai hướng: ngược lại và theo chiều thuận, rồi đưa cho tôi vào sáng mai.”

Thôi Hiệp đã bị ấn tượng sâu sắc bởi những cách giải đáp đó, đến nỗi hoàn toàn không để ý đến việc ông Linh trước đó đã bỏ qua hai phương pháp giải đáp khác; anh ta chỉ tập trung lắng nghe một cách chăm chỉ. Ông Linh một lần nữa giữ vững uy tín của một người thầy, giảng bài một c

1/1 0%