Chương 192
Ba yếu tố cơ bản của một bài luận biện luận là luận điểm, luận cứ và lập luận. Cách viết các bài luận ngắn hiện đại như vậy thì cũng có thể áp dụng được cho các bài luận thời cổ đại. Luận điểm trong bài luận không giống như trong các loại văn chương nghệ thuật, không có cấu trúc cố định như mở đầu, phát triển nội dung, kết luận, hay các quy tắc cụ thể khác; chỉ cần sắp xếp các phần một cách hợp lý, lập luận một cách tỉ mỉ, và sử dụng những luận cứ có nguồn gốc từ các sách kinh điển và sử liệu lịch sử, cố gắng đảm bảo rằng mọi luận điểm đều có cơ sở vững chắc là được.
Về phía phương pháp lập luận, hoàn toàn có thể áp dụng những kỹ thuật đã được tổng kết trong các bài luận biện luận hiện đại.
Từ khi còn học tại nhà ông Lin, anh ta đã áp dụng cách viết này, và kết quả rất tốt; không có viên chức thi cử nào phàn nàn về cách viết của anh ta. Vì vậy, phương pháp này hoàn toàn có thể được sử dụng trong kỳ thi đình.
Anh ta tổng hợp lại suy nghĩ của mình và soạn thảo dàn ý, bắt đầu với luận điểm “Thế giới này không có cái gì nằm ngoài tâm trí con người để quản lý được”.
Trái tim của vua chúa chính là nền tảng để quản lý đất nước. Tuy nhiên, nếu ngay từ đầu đã nói rõ tầm quan trọng của trái tim vua chúa, mặc dù điều này có ưu điểm là trực tiếp vào vấn đề, nhưng cũng có vẻ cứng nhắc và thiếu tự nhiên. Thay vào đó, nên sử dụng các phương pháp quản lý khác để hỗ trợ cho luận điểm về trái tim vua chúa.
Việc quản lý đất nước vốn dĩ phải dựa vào những người hiền triết; thông qua con người để thực hiện chính sách, và từ chính sách đó mà đạt được sự ổn định và phát triển. Nếu những người được sử dụng cùng với các chính sách không đủ sức để giải quyết mọi vấn đề, thì vẫn có thể sử dụng pháp luật để kiểm soát các quan lại và người dân. Nhưng tại sao lại phải dựa vào trái tim của vua chúa?
Bởi vì “thế giới này không có cái gì nằm ngoài tâm trí con người để quản lý được”!
Trái tim vua chúa chính là nền tảng; những phương pháp quản lý của các quan lại chỉ là những biện pháp phụ trợ. Nếu không có nền tảng vững chắc, thì không thể đạt được sự ổn định. Nếu các quan lại không thể giúp vua chúa loại bỏ những điều sai trái trong tâm trí mình, làm sao họ có thể giúp vua chúa quản lý đất nước một cách đúng đắn?
Việc “sửa chữa những điều sai trái trong tâm trí vua chúa” chính là việc hướng dẫn vua chúa sống theo đạo đức nhân nghĩa. Như Mạnh Tử đã nói: Sự khác biệt giữa con người và động vật chính là lòng nhân nghĩa; lòng nhân nghĩa là phẩm chất bẩm sinh của con người, cũng chính là “điều đúng đắn” trong trá
Thôi Hiệp Viết bài tiểu luận này thật là thuận lợi; sau khi hoàn thiện nội dung, anh nhìn ra ngoài và thấy mặt trời mới vừa ló dạng trên mái lều thi. Nếu tiếp tục viết như this, ngay cả khi hoàn thành bài biểu tạ ơn kia, có lẽ cũng chưa đến trưa đâu.
Thời gian vẫn còn nhiều, việc sửa lại cũng không sao cả.
Anh lại xem lại bản thảo vài lần, cảm thấy vẫn có thể thêm vào vài câu trích dẫn từ các tác phẩm kinh điển để minh họa cho luận điểm của mình. Không cần phải sửa đổi phần trước, chỉ cần thêm vào vài câu danh ngôn nổi tiếng như câu của Khổng Tử: “Tâm chính thì thân mới tu dưỡng được”, hay những lời của Yao và Shun: “Lòng người rất nguy hiểm, con đường chính nghĩa cũng rất nguy hiểm… Hãy kiên trì giữ vững cái chính giữa”. Chính giữa chẳng phải chính là tâm chính sao?
Những điều cần thảo luận đã được nêu ra, những luận cứ cần thiết cũng đã được đưa vào. Khi trình bày, ngoài việc trích dẫn kinh điển, anh còn sử dụng cách so sánh liên tiếp, từ các khía cạnh như triều đình, người dân, bốn biển, chín châu… để chứng minh rằng nếu tâm của vua chính thì cả thế giới cũng sẽ chính đáng. Bài viết có thể coi là tinh tế và đẹp đẽ, không cần phải sửa thêm gì nữa.
Chỉ còn thiếu một phần kết luận… Anh một lúc không thể nghĩ ra một câu kết thúc nào hay ho, nên quyết định đơn giản là tiếp tục nhấn mạnh ý tưởng ban đầu: “Người tôi tớ muốn một vị vua chính đáng thì phải tìm kiếm trong chính tâm mình”, rồi nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc “tu dưỡng tâm hồn”: “Tu dưỡng tâm hồn là việc quan trọng hàng đầu đối với một vị vua; việc làm này chỉ có những người lớn lao mới có thể thực hiện được. Những ai có ước mơ về đất nước và thế giới này, thực sự không thể không suy ngẫm về điều này!”
Cuối cùng, anh thêm vào hai chữ “Kính bàn”, và bài tiểu luận đã hoàn thành.
Khi viết phần kết luận này, anh chỉ mong nó ngắn gọn, súc tích và phù hợp với nội dung bài viết. Nhưng sau khi viết xong, anh lại thấy rằng phần kết này thực sự rất tốt; không thể sửa thêm gì được nữa. Nếu thay đổi, thì cảm giác “hy sinh bản thân vì đất nước” sẽ không còn nữa.
Những ai có ước mơ về đất nước và thế giới này, thực sự không thể không tự kiểm tra lại bản thân mình!
Thôi Hiệp Anh vuốt ve ngực mình và cảm thấy rằng mình, người đã có thể viết ra những lời này, cũng giống như một người quý ông xứng đáng, luôn quan tâm đến đất nước và thế giới. Một cảm giác vinh quang khó tả xuất hiện trong lòng anh.
Anh đọc lại bản thảo từ đầu đến cuối, vừa tự hào v
Anh ta cẩn thận ghi lại nội dung đề bài như sau: “Thành Hóa Ngày tháng năm nào đó trong năm thứ hai mươi ba, tôi, Kông Mỗ, xin được…”. Chỉ riêng câu này đã có ba chữ “nào đó” và một chữ “tôi”; những chữ này phải được viết với kích thước chữ song hàng, trong đó chữ “nào đó” phải được đặt ở giữa ô, còn chữ “tôi” thì phải được viết sát với đường dọc bên phải của ô; nếu viết sai vị trí thì coi là thiếu lễ phép.
Sau khi viết xong chữ “mỗ”, không thể ngay lập tức tiếp tục viết “xin được ân huệ của Hoàng gia”, bởi vì chữ “thánh” phải được viết riêng một dòng, đặt ở đầu dòng để thể hiện sự cao quý và uy nghiêm của hoàng gia.
Không chỉ chữ “thánh”, mà chữ “hoàng”, “từ bi”, “tiên đế”, “quân vương”, “trời” cũng đều phải được viết ở đầu dòng. Những từ như “tiên sư”, “hôm nay”, cùng các từ ngữ ca ngợi hoàng đế như “thời đại thịnh vượng”, “thời đại minh bạch”, “thời đại rực rỡ”, “ân huệ từ trời ban”, “ánh sáng rực rỡ như mặt trời mọc” đều phải được viết lùi một dòng so với các từ khác; chỉ cần sai một chút thôi là cả bài thi này sẽ bị hủy bỏ.
Thôi Hiệp phải suy nghĩ từng chữ một; đôi khi anh ta quên không đổi dòng, buộc phải dùng bút mực tô đi tô lại để viết lại, khiến cho bản thảo đầy những vết mực loang lổ, tạo nên sự tương phản rõ rệt so với những trang giấy sạch sẽ của bài thi trước đó.
Khi viết bài biểu này, dù việc chuẩn bị những lời ca ngợi đức độ của hoàng đế và tiên hoàng không quá khó khăn, nhưng thời gian anh ta dành để đổi dòng và tạo khoảng trắng lại chiếm hết hơn một giờ đồng hồ.
Đến khi viết xong câu cuối cùng “kính gửi bài biểu này để bày tỏ lòng biết ơn”, anh ta còn phải suy nghĩ từng chữ một, thậm chí phải đổi dòng hoặc tạo khoảng trắng cho một số từ nhất định; chữ “biểu” và “biết ơn” đều phải được viết lùi một dòng, còn chữ “bày tỏ” thì phải được viết ở đầu dòng, khiến cho cách sắp xếp các chữ trở nên rất phức tạp; người không quen với cách viết này sẽ khó có thể hiểu được ý nghĩa của câu văn.
Khi sao chép bài thi, anh ta cũng không dám vội vàng viết; thay vào đó, anh ta mở tệp PDF, so sánh nội dung trong đầu với nội dung trên giấy, và từng chữ một, theo đúng cách sắp xếp của các chữ trên giấy mà sao chép lại.
Cho đến lúc gần hết giờ, Thôi Hiệp mới giao bài thi đã kiểm tra kỹ lưỡng cho người nhận bài thi, ký tên, đóng dấu, rồi mang theo giỏ đựng bài thi đến cửa ra vào để xếp hàng chờ đợi được phép ra ngoài.
Lần này, anh ta không phải là người ra ngoài sớm nhất; nhóm người đầu tiên đã ra ngoài rồi, nhóm thứ hai đ
Phí Hoàng kéo Thôi Hiệp lại và giới thiệu: “Đây chính là người mà tôi đã nói với bạn, đó là Thái Hòa Hồng – chính ông ấy đã thuyết phục được các quan chức cấp cao cho phép in ấn cuốn ‘Ghi chú thi cử bắt buộc’ này; tất cả học sinh trong khu vực này đều phải biết ơn ông ấy!” Rồi ông chỉ vào người đồng hương và nói tiếp: “Đây là người đồng hương của tôi, Chênh Khải, hay còn gọi là Chênh Chính Chi. Anh Chênh là một nhân tài nổi tiếng ở Giang Tây; năm nay, anh ấy đến kinh thành để tranh tài và giành vị trí đầu tiên!”
Thôi Hiệp cúi chào và nói: “Vậy thì nhân tài Chênh từ Giang Tây nổi tiếng khắp kinh thành chính là ngài sao? Dù tôi không đi ra ngoài nhiều, nhưng cũng nghe nói rằng năm nay có rất nhiều học giả từ miền nam đến Giang Tây; trên sân thi năm nay, có lẽ hai ngài sẽ giành chiến thắng.”
Người đàn ông tên Chênh lịch sự cười và nói: “Khi còn ở quê nhà, tôi cũng tự tin mình một chút; nhưng khi gặp các bạn, những nhân tài trẻ tuổi như vậy, tôi không dám nói như vậy nữa. Với tuổi tác của mình, làm sao tôi có thể cạnh tranh với hai người trẻ tuổi giành vị trí đầu tiên được?”
Ba người trao đổi vài lời lịch sự với nhau, sau đó gia đình của hai nhà Cui và Chênh liền đến đón họ. Thôi Hiệp nhận lấy chiếc áo khoác da dày, chiếc áo choàng và đôi ủng bông dày từ họ, rồi đưa chiếc giỏ đựng đồ thi cho họ và nói: “Thật hiếm khi gặp được anh Phí và anh Chênh; tôi sẽ trao đổi về các câu hỏi thi với họ. Bạn hãy mang đồ của tôi về và thông báo với ông bà tôi; tối nay sau bữa tối, tôi sẽ trở về.”
Phí Hoàng có vẻ hơi xin lỗi và nói: “Chú tôi vẫn đang ở trong khu vực thi; tôi phải đợi ông ấy ở bên ngoài, nên e là không thể cùng các bạn tìm chỗ nói chuyện được.”
Chênh Khải thì có người đồng hương mời đi uống rượu và thảo luận về đề thi; sau khi kết thúc kỳ thi, anh ấy muốn trở về nhà, nhưng cũng không tiện để lại Thôi Hiệp một mình, nên cũng hơi băn khoăn. Thôi Hiệp chỉ yêu cầu gia đình mình rời đi, sau khi họ đi xa, anh ấy nói với hai người: “Anh Phí nên đợi chú tôi trở về cùng mới đúng; tôi naturally không thể dẫn các bạn đến những nơi vô ích đó. Nếu anh Chênh có việc gì, cứ đi trước đi; tôi và anh Phí sẽ soát lại các câu hỏi thi rồi trở về.”
Hôm nay chỉ có hai bài luận và bốn câu hỏi phán đoán; thực ra cũng không có gì đáng để suy nghĩ nhiều. Anh ấy cũng không phải muốn soát lại đáp án, mà chỉ muốn trì hoãn thời gian, chờ đợi ng
」
Thôi Hiệp bỗng sáng mắt lên: “Đúng là điều tôi đang mong muốn. E rằng sau này khi hai người các bạn đều thi đậu vào Hàn Lâm Viện và không còn quan tâm đến cuốn 『Ghi chép về kỳ thi khoa cử』 này nữa thì sao?”
Phí Giải Nguyên cười nói: “Những câu hỏi trong sách đều do các nhà biên soạn soạn thảo ra. Dù ai may mắn đậu thi và được vào Hàn Lâm Viện để học tập, ai lại có thể từ chối làm những bài tập do các tiền bối soạn ra chứ? Anh Chính Chí trước đây đã mua hết những cuốn ghi chép về kỳ thi khoa cử, cũng như những tài liệu liên quan đến kỳ thi ở Bắc Kinh; anh ấy còn mua cả bút chì và bảng trắng của Cư An Trại, và luôn khen ngợi rằng căn phòng học đó thực sự khác biệt so với những nơi thông thường – nó không chỉ tập trung vào việc kiếm tiền, mà còn là nơi thể hiện phong cách của một người quý tử!”
Thôi Hiệp trong lòng thì rất mãn nguyện, nhưng bề ngoài vẫn phải giữ thái độ khiêm tốn, liếc mắt nói: “Chú Cui cùng những người khác cũng đã chứng kiến con đường học tập và thi cử gian khổ mà tôi trải qua, nên họ mới quyết tâm xây dựng căn phòng học này một cách tận tâm cho các sinh viên.”
Phí Hoàng thở dài: “Thật đáng tiếc là ông chủ cửa hàng Cui ấy còn in những cuốn truyện tranh đó nữa… Mọi người đều nói rằng những bức tranh đó có phần tục tĩu…”
Thôi Hiệp ho khan một cái, ngẩng đầu hỏi: “Tôi cứ có cảm giác đây không phải là lần đầu tiên nghe người ta nói về điều này… Những cuốn truyện tranh đó bị đánh giá xấu như vậy à? Tôi thấy những câu từ trong đó được viết rất tinh tế; dù sao thì tôi cũng không thể viết ra những câu như vậy được trong vài năm nữa đâu!”
Phí Hoàng nhìn anh ấy một cái, rồi tiến lại gần hơn và thì thầm: “Thật xấu hổ khi phải thú nhận điều này… Thực ra tôi cũng đã đọc vài cuốn… Nhưng chúng có quá nhiều hình minh họa mà ít chữ lắm, phải không? Và những câu chuyện trong đó lại liên quan đến tổ chức Kim Y Việt… Cha tôi cùng những người khác cũng không mấy thích loại truyện này…”
Nói chung, ngoại trừ những người sống ở khu vực Bắc Trực Lệ – nơi mà tổ chức Kim Y Việt đã ảnh hưởng đến suy nghĩ của mọi người trong nhiều năm – cùng với những người ở các thành phố như Sư Tương, Nam Kinh, những nơi mà các eunuch đã gây ra nhiều rối loạn và bạo lực, thì hầu hết mọi người đều không thích tổ chức Kim Y Việt. Còn có một số người đơn giản là không thích hình thức truyện tranh này, vì họ cho rằng chúng có quá nhiều hình minh họa mà ít chữ, và dường như chỉ phù hợp với trẻ em
Vì là khách hàng lớn nên cứ muốn nói gì thì nói đi.
Sự kiêu ngạo của Đại Minh triều… Thôi Hiệp đã không muốn phàn nàn nữa. Anh ta chào tạm biệt với Fei Jianyuan, đi vòng quanh thành phố một hồi cho đến khi trời tối mới quay lại. Anh ta đội chiếc mũ khoác và dắt con ngựa nhỏ đi dạo quanh phố, rồi trở lại quán bánh nhỏ kia – nơi không mấy nổi bật.
Anh ta buộc ngựa bên ngoài cửa quán, rồi vào trong mua vài hộp bánh giò, một ít đá đường lớn. Đứng ở ngưỡng cửa, anh ta quan sát xung quanh. Khi thấy một người có trang phục tương tự như mình đang cưỡi con ngựa màu nâu hạt dẻ đi qua, anh ta liền cầm theo bánh và đá đường, ra khỏi cửa quán.
Tạ Anh nhảy xuống ngựa, dắt dây cương đi về phía quán rượu nhỏ, muốn đợi ở ngoài như lần thi trước. Nhưng khi đến nơi mình đã từng ở trước đó, anh ta phát hiện ra có một người cũng mặc chiếc mũ khoác và đội chiếc mũ len đã chiếm chỗ của mình rồi.
Người đó đang đứng ngay bên ngoài cửa quán, cầm con ngựa nhỏ và đang cho nó ăn thức gì đó. Khi thấy anh ta đến, người đó ngẩng đầu lên và mỉm cười với anh ta trong ánh sáng mờ ảo của buổi tối.
Lời nhà văn: Tác giả của câu chuyện này là Zhang Huai; người viết lời cảm ơn là Kong Jigao.
Chưa có truyện phù hợp.