lore

Chương 191

12,218 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Ở thời hiện đại, sau khi kết thúc kỳ thi, hầu hết các thí sinh đều gặp lại bạn bè để so sánh đáp án xem ai đúng, ai sai. Mặc dù phần thi chủ yếu là viết luận ngắn, nhưng vẫn có sự khác biệt về mức độ sâu sắc trong cách tiếp cận và ý tưởng trình bày; việc so sánh đáp án cũng giúp các thí sinh tự tin hơn một chút.

Khi về đến nhà, Quách Dung và Vương Chí Xương đã có mặt ở nhà rồi; hai vị Lục Cử Nhân và Thang Ninh vẫn đang ở trong phòng sao chép bản thảo cuối cùng. Anh ta không kịp ăn uống gì, vội vàng vào chào hỏi hai vị lão gia, sau đó lấy một chiếc bánh bao và mang theo canh dê nấu với đậu hoàng quy đến phòng khách để so sánh đáp án với hai vị thí sinh trước đó đã về.

Họ chỉ so sánh những ý tưởng chung trong việc trả lời các câu hỏi liên quan đến Tứ Thư; những phần liên quan đến Ngũ Kinh thì không thể so sánh được. Sau khoảng nửa giờ, ba vị thí sinh còn lại cũng trở về; họ đã viết đến khi nến tàn và không thể sửa đổi thêm được nữa mới buộc phải ra về. Thôi Hiệp liền bảo người mang đồ ăn nóng đến; ba người này cũng không muốn ăn gì, họ chỉ hỏi ba người xuất hiện sớm hơn làm thế nào và đã viết được bao nhiêu từ.

Ông Lục nói với vẻ lo lắng: “Tôi đã đọc lại bài viết của mình về chủ đề ‘Mùa thu, Tần và Wu tiến quân chinh phạt Xiānyū’; có vẻ như tôi đã viết hơn năm trăm từ, nhưng tôi không đếm kỹ xem liệu có vượt quá giới hạn hay không… Không biết các giám khảo có coi đó là lý do để loại tôi không?” Trong khi ông Lục lo lắng về số lượng từ, thì Lục An lại rất ngưỡng mộ anh ta và thốt lên: “Anh Lục thật có tài năng văn chương; nếu các giám khảo thích, dù viết thêm vài từ cũng chẳng sao đâu! Còn bài viết của tôi với chủ đề ‘Yǔn Dí Zī Shēng mín Bǎo jué jū wéinǎi nǎi shì wáng’ thì lại gặp phải khó khăn trong việc suy nghĩ; tôi chỉ có thể kết thúc một cách vội vã, không biết liệu có đủ ba trăm từ hay không…” Ngay cả Guo Tài Tử – người thường được coi là học giả xuất sắc – cũng than phiền với họ: “Với những câu hỏi liên quan đến Ngũ Kinh, chỉ cần trả lời một cách vừa phải là đủ rồi; điều mà các giám khảo quan tâm nhất là những bài viết về Tứ Thư. Trong bài viết của tôi với chủ đề ‘Chính sách của Văn Vũ’, tôi đã diễn giải rằng ‘Thánh nhân khi được vua Lỗ hỏi về chính sách, đã trả lời bằng cách suy ngẫm về những nguyên tắc của tổ tiên’. Liệu cách diễn giải này có đủ sâu sắc không? Các bạn thì làm thế nào?” Việc diễn giải như vậy mà còn không đủ sâu sắc à! Phải chăng con đường cai tr

Sáng hôm sau, Thôi Hiệp mang theo các bài viết của mình cùng với những bài viết của vài người bạn đồng hương tài năng khác, đến gặp thầy Lý Đông Dương để xin ý kiến phê bình.

Lễ kỷ niệm 77 ngày qua đời của Li Thái Công đã kết thúc, nhưng vì lo lắng cho kỳ thi của con trai mình, thầy Li không còn quá buồn bã về cái chết của cha mình nữa; tinh thần của thầy cũng dần ổn định trở lại. Thầy không hỏi những bài viết đó do ai soạn thảo, mà chỉ tiếp nhận chúng để xem xét.

Các bài viết của sáu vị khoa sinh này có sự khác biệt về mức độ, nhưng tất cả họ đều là những người đã thi đỗ một cách chính thức; suy nghĩ và ngôn từ trong các bài viết của họ đều rất chuẩn xác. Những gì họ lo lắng không phải là liệu bài viết của mình có hay không, mà là liệu chúng có phù hợp với khẩu vị của các giám khảo hay không. Có một câu nói nổi tiếng trong thời đại đó: “Không mong bài viết của mình được mọi người yêu thích, chỉ hy vọng nó sẽ được các giám khảo đánh giá cao.” Điều này chính xác phản ánh nỗi lo lắng của các thí sinh – dù bài viết có hay đến đâu, nếu không phù hợp với ý muốn của giám khảo, họ vẫn có quyền loại bỏ bạn, và bạn sẽ không thể biện hộ được gì!

Sáu thí sinh đang ở nhờ tại Thôi Gia đều tràn đầy hy vọng khi tiễn Thôi Hiệp ra đi, họ đều mong chờ kết quả phê bình của thầy Li để có thể tự tin tham gia hai kỳ thi tiếp theo.

Lý Đông Dương, người từng là giám khảo chính, không kiểm tra các bài viết một cách chi tiết như những học giả bình thường; thay vào đó, ông tuân theo thói quen đánh giá trong kỳ thi thực tế: chỉ xem phần mở đầu của bài viết; nếu phần mở đầu không hấp dẫn, dù phần sau viết hay đến đâu, giám khảo cũng sẽ không kiên nhẫn đọc tiếp.

Sau khi đọc xong sáu bài viết về “Tử Tử Nghe Tiếng Nhạc Ở Ký”, ông đã đưa ra quyết định của mình: chỉ ra rằng hai bài viết của Wang Zhichang và Lu An chưa đủ tốt, và yêu cầu Thôi Hiệp thông báo cho họ biết sau ba kỳ thi nữa. Ông cũng đã đọc lần lượt các bài viết về Tứ Thư của bốn người còn lại; mặc dù có nhiều bài viết liên quan đến những kinh sách không phải là chuyên môn của họ, nhưng với kiến thức sâu rộng về Năm Kinh, ông vẫn có thể nhận ra sự khác biệt giữa chúng.

Các bài viết về Tứ Thư của những sinh viên này đều rất chính xác và sâu sắc; tuy nhiên, các bài viết về Năm Kinh của ba người là Lu Boshan, Quách Dung và Lu An thì còn hơi kém một chút – có lẽ không phải vì họ học kém về nội dung các kinh sách, mà là vì trước đó họ đã luyện tập các bài tập đi kèm với ghi chú của các giáo sư danh tiếng tại Quốc Tử Giám, điều này khiến hiểu

“Cách làm này hơi không chắc chắn lắm… Bài viết của bản thân tôi dù không theo kiểu gì cụ thể, nhưng cũng có phần nguy hiểm. Không phải vì nội dung hay các ví dụ trong bài viết đó không chính xác, mà là vì bài ‘Bất giải kỳ vị’ của tôi mang tính chất can đảm và trực tiếp phê bình quá mức; e rằng điều này sẽ không phù hợp với ý muốn của người chấm thi.”

Anh ta lắc đầu, nhưng khóe miệng lại nhẹ nhàng nở nụ cười: “Yin Các Lão và hai vị Vạn, Lưu đều có mối quan hệ tốt với nhau; họ thích những bài viết mềm mại và nịnh hót. E rằng bài viết của bạn sẽ không được họ đánh giá cao… Nhưng nếu nó đến tay Ngô Dục Đức, chắc chắn ông ấy sẽ rất đánh giá cao nó.” Bài viết này toát lên tinh thần trung thành và chính trực, thể hiện rõ bản chất của những lời khuyên và phê bình từ người xưa; phong cách và ý đồ biểu đạt của nó hoàn toàn tương tự như các bài viết trước đây, và nó đã thành công trong việc chỉ ra tác dụng của âm nhạc trong việc thúc đẩy đạo đức con người – đây quả là một bài viết khá mới mẻ.

Những lời khen ngợi này anh ta giữ trong lòng mà không nói ra để không khiến học trò của mình tự mãn; anh ta chỉ chia sẻ suy đoán của mình về sở thích của hai vị giám khảo. Sự suy luận này khá giống với những gì Thôi Hiệp tự mình nghĩ trong lúc làm bài thi, vì vậy Thôi Hiệp cũng cười nói: “Khi viết phần kết luận, tôi cũng đã nghĩ rằng người chấm thi có lẽ sẽ không thích bài viết này. Nhưng nếu không viết câu đó, bài viết sẽ thiếu đi điều gì đó quan trọng, không trọn vẹn… Và nếu tâm trạng tôi bị áp lực như vậy, thì làm sao tôi có thể tiếp tục viết những bài viết khác được?”

Dù sao thì cũng không thể đỗ được… Thà rằng viết cho thoải mái đi! Tinh thần lạc quan của anh ta đã lan tỏa đến thầy Li; thầy vỗ vào bài viết của anh ta và nói: “Viết đi thôi… Nếu bản thân mình còn không hài lòng với bài viết đó, làm sao có thể mong đợi người chấm thi sẽ thích nó? Dù Yin Học Sĩ có không chọn bài viết của bạn, nhưng ở kỳ thi tiếp theo, nếu có những người trung thực và chính trực làm giám khảo, chắc chắn họ sẽ đánh giá cao tinh thần dám nói lên sự thật và lòng trung thành của bạn!”

Nghĩ theo hướng tích cực thì, nếu người chấm thi thực sự không thích bài viết đó, họ có thể sẽ loại bỏ anh ta ngay lập tức… Thay vì lo lắng rằng học trò này sẽ không đạt được kết quả tốt trong kỳ thi cuối cùng…

Hai người thầy trò đều là những người luôn lạc quan; họ quyết định không nghĩ về những điều đã qua, mà tập trung chuẩn bị cho hai kỳ thi tiếp theo. Những câu hỏi liên quan đ

Thôi Hiệp Trở về nhà với hai tay trống rỗng, ông Lục cùng các người đồng hương liền vội vàng hỏi ông xem thầy Lý đã chấm điểm như thế nào. Ông không nói sự thật với hai người thi kém một chút, mà chỉ nói: “Thầy tôi đã xem qua sơ bộ, tất cả đều có những điểm đáng chú ý. Chỉ là do gia đình bận rộn, chưa kịp chấm điểm ngay lập tức; tài liệu thi đã được để lại để thầy xem kỹ hơn. Khi rảnh rỗi, thầy sẽ chấm điểm và sau đó mang về cho mọi người cùng xem.”

Mặc dù chưa chắc chắn sẽ đậu, nhưng nghe câu “đều có những điểm đáng chú ý”, những người thi này đều thở phào nhẹ nhõm và vội vàng tiếp tục ôn lại các tài liệu luật pháp và các sắc lệnh nổi tiếng từ trước, chuẩn bị cho kỳ thi thứ hai.

Kỳ thi này vẫn diễn ra vào lúc bốn giờ sáng.

Trong khoảng thời gian giữa hai kỳ thi, những người thi muốn đọc truyện tranh đã mượn hoặc mua những cuốn họ muốn đọc, để không phải lo lắng và bị ảnh hưởng bởi những lời giải thích trước khi thi. Nhưng lần này, họ đã chuẩn bị sẵn; người thi trước đây từng kể chuyện về việc sử dụng mánh khóe tình cảm để chia rẽ kẻ thù và những kẻ phản bội thì không nói gì nữa, mà lặng lẽ xông vào phòng thi.

Ở kỳ thi thứ hai, người thi phải chọn một trong ba đề tài từ các sắc lệnh và viết năm phần bình luận.

Đề tài là “Nếu quân vương công bằng, thì mọi việc chắc chắn sẽ ổn thỏa”. Các đề tài trong sắc lệnh đều được soạn theo phong cách văn chương của thời Hán và Đường: Sắc lệnh là “Bản sao sắc lệnh của triều đại Hán khuyến khích việc học và tuân thủ nghi lễ”; Cáo là “Bản sao sắc lệnh của triều đại Đường phong ông Dương Nguyên Chi làm Bộ trưởng Quân vụ và cấp ba trong Hội đồng Trung thư”; Biểu là “Bản sao biểu xin phong cho hậu duệ của gia tộc Khổng ở Quế Châu làm Giáo sư Năm Kinh sách”.

So với sắc lệnh và cáo, biểu có định dạng cụ thể hơn, nên người thi có ít không gian để thể hiện bản thân hơn; tuy nhiên, viết biểu vẫn dễ dàng tạo ra những điểm nổi bật hơn. Hơn nữa, vì ba kỳ thi đều quan trọng, các giáo viên cũng sẽ xem các bài thi của người thi; để có thể nổi bật giữa bốn nghìn người và trở thành một trong ba trăm người đậu, người thi cần phải cố gắng hết sức trong hai kỳ thi cuối cùng.

Thôi Hiệp Không do dự gì, ông đã chọn bản biểu xin phong cho hậu duệ của gia tộc Khổng ở Quế Châu và đọc lại năm phần bình luận, đồng thời gợi nhớ lại nội dung của “Luật Đại Minh” để so sánh với các phần bình luận đó, rồi bắt đầu viết bản thảo.

Người khác viết thay bản bình luận:

Khi nói đến việc coi trọng Luật Đại Minh, không có người thi cử nào quen biết với Thôi Hiệp hơn ông ta. Dù sao thì ông ta cũng là một người du hành thời gian; so với người bản địa, ông ta không quá am hiểu các quy tắc phức tạp của triều đại này. Vì vậy, việc nghiên cứu kỹ lưỡng luật pháp là điều rất cần thiết, để tránh gặp rủi ro do không hiểu rõ bối cảnh thời đại. Hơn nữa, ngay sau khi đến đây, ông ta đã phải tham gia một vụ kiện tụng, và còn có trường hợp bị vu khống dẫn đến việc bị phạt, điều này càng khiến ông ta nhận ra sức mạnh của pháp luật Đại Minh. Việc học thêm nhiều về luật pháp giúp ông ta cảm thấy an tâm hơn.

Năm câu hỏi trong phần trả lời này chỉ yêu cầu viết lại không cần suy nghĩ nhiều; sau khi hoàn thành xong, ông ta có thể tập trung vào hai bài luận và báo cáo lớn tiếp theo. Phần luận không có giới hạn về số từ; càng viết nhiều thì càng tốt. Cả ba kỳ thi đều sử dụng mười hai tờ giấy để viết; kỳ đầu tiên gồm bảy bài văn thời sự, ba kỳ tiếp theo mỗi kỳ có năm câu hỏi chiến lược, nhưng kỳ thứ hai chỉ có một bài luận và một báo cáo, tổng số từ của cả hai phần này còn ít hơn cả một bài văn thời sự...

Bài luận và báo cáo đó, làm sao bạn có thể không viết thật nhiều để lấp đầy trang giấy được chứ? Một câu hỏi ít nhất cũng phải dài bằng hai ba bài văn thời sự mới xứng đáng được trình lên cho giám khảo xem, phải không?

Thôi Hiệp thở dài một tiếng, đặt những câu trả lời đã viết sang một bên, lấy tờ giấy mới để viết bài luận với đề tài “Quân chính bất chính bất trực”. Ông ta suy ngẫm kỹ lưỡng về đề tài này.

Câu “Quân chính bất chính bất trực” xuất phát từ tác phẩm “Mạnh Tử • Ly Lỗ Chương Cúc Thượng”; nguyên văn là Mạnh Tử nói với Công Tôn Thôu rằng: “Chỉ có người quân tử cao thượng mới có khả năng khuyên nhủ vua điều chỉnh những sai lầm trong lòng mình. Nếu vua nhân từ thì mọi người cũng sẽ nhân từ; nếu vua công bằng thì mọi người cũng sẽ công bằng; nếu vua chính trực thì mọi việc sẽ được điều chỉnh đúng hướng. Khi vua điều chỉnh được bản thân mình, thì đất nước cũng sẽ ổn định.” Từ “khắc khe” trong câu “Khắc khe lòng vua điều chỉnh những sai lầm” thực chất là từ “giá”, nhưng không phải là từ “giá” trong câu chuyện về việc tu luyện để hiểu được bản chất thực sự của sự nhân từ, mà là có nghĩa là khuyên nhủ vua điều chỉnh lại hành vi của mình để trở nên đúng đắn hơn.

Cheng Tzu từng nói: “Sự thịnh vượng hay hỗn loạn của thế giới phụ thuộc vào việc vua có nhân từ hay không.” Lời

1/1 0%