lore

Chương 190

12,057 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Bốn tiếng trống vang lên, bình minh bắt đầu rạng sáng.

Cho đến khoảng giờ Sửu của ngày hôm đó, Thôi Hiệp mới sao chép ba đề bài “Lân Chỉ”, “Ngã Quan Chi Tử” và “Thiên Mệnh Đa Khai” đã được in sẵn trong tập PDF ra giấy viết thảo, chỉnh sửa theo yêu cầu của đề thi này, sau đó sao chép hai đề đầu tiên lên bài thi chính thức, còn để lại đề “Thiên Mệnh Đa Khai” để hoàn thành sau khi giải xong câu hỏi “Bất Giải Dư Vị, Dân Chi Nguy Cơ”.

Các đề bài này được lấy từ “Đại Nhã • Giả Lạc”; câu đầu tiên là “Giả Lạc quân tử, hiển hiển lệnh đức”. Trong “Trung Dung” thì được viết là “Gia Lạc quân tử, hiến hiến lệnh đức”; “Gia Lạc” có nghĩa là vui mừng một cách đẹp đẽ. Tuy nhiên, những sai sót chữ viết của người xưa được gọi là “thông giả tự”, và người sau không thể dễ dàng sửa đổi; ngay cả những bậc hiền triết như Chu Thực cũng chỉ có thể ghi chú chữ đúng ở phía sau và giải thích ý nghĩa của bài thơ.

Kể từ khi có Chu Thực, các học giả sau này ít khi đọc kỹ nguyên văn của “Kinh Thi” hay lời tựa của nó; họ đều dựa vào các chú giải để hiểu nội dung. Lời tựa của “Kinh Thi” nói rằng “Giả Lạc” là bài thơ ca ngợi Vua Thành; nhưng Chu Thực cho rằng “Giả Lạc” “có thể” là một bài thơ dùng trong các nghi lễ tế tự, được sử dụng trong các buổi lễ tế thần của triều đại Chu, nơi “công thị” đóng vai trò là bài thơ đáp lại bài thơ tế “Phù Y”. Vì vậy, khi viết văn, họ cần phải suy nghĩ theo hướng của bài thơ đáp lại và liên kết với nội dung của bài “Phù Y” để viết thêm vài câu.

“Phù Y” thực sự là một bài thơ rất đơn giản và thuần túy, mô tả việc mời các vị tổ tiên đến tham gia bữa lễ tế và ban phước cho hoàng gia.

Tuy nhiên, “công thị” trong các nghi lễ tế tự không phải là xác thật; mà là chỉ những quan lại được vua Chu chỉ định đóng vai trò các vị tổ tiên, thay mặt họ nhận lễ vật, ban phước cho hoàng gia và toàn thể thiên hạ. Khi “công thị” xuất hiện, buổi lễ tế tự mới được coi là hoàn thành. “Thị” ở đây chỉ đến danh tính của họ – họ không phải là con người bình thường mà là những vị tổ tiên được mời đến tham gia lễ tế; còn “công” là danh xưng tôn trọng dành cho những quan lại này trong quá trình lễ tế.

Hai bài thơ “Phù Y” và “Giả Lạc” được đặt liền kề nhau trong quyển “Đại Nhã”; các học giả thời Song đều cho rằng “Giả Lạc” là bài thơ ca ngợi quân tử sau khi “công thị” nhận lễ tế, mong muốn vua có đức độ rực rỡ và oai nghiêm, quản lý thiên hạ một cách công bằng. Mặc dù bài thơ này chủ yếu ca ngợi vua với “gia lạc”, nhưng nó cũng ẩn chứa một số ý kiến khuyên

Các đại thần quan trọng đều giữ vị trí của mình, vua tôi và quan lại cùng nhau hợp tác ăn ý, thì chắc chắn sẽ có được sự ổn định và hòa thuận trong chính sách; vào lúc này, người dân mới có thể yên bình sinh sống và phục hồi sức lực.

Câu này chính là cách khéo léo khuyên nhủ vua phải chăm chỉ trong công việc chính trị.

Nếu chỉ muốn diễn đạt một cách đơn giản và mượt mà, có thể viết theo nghĩa đen của câu đề là “Người quý tử xưa không bao giờ lơ là công việc chính trị; đó chính là lý do để người dân có thể nghỉ ngơi”. Nhưng cách viết này sẽ quá đơn điệu, và toàn bộ bài viết sẽ bị gói gọn trong hai từ “chăm chỉ trong công việc chính trị”. Việc đặt ra chủ đề cho bài viết là yếu tố then chốt, nếu không đặt đúng chủ đề, sẽ rất khó mở rộng nội dung bài viết để phù hợp với chủ đề chung của bài thơ.

Thực chất, chủ đề chính của bài thơ không phải là lời khuyên nhủ nhẹ nhàng cuối cùng đó, mà là câu đầu tiên: “Người quý tử giả vờ vui vẻ, để thể hiện đức độ cao cả của mình”. Đây là một bài thơ ca ngợi đức độ của vua, một bài thơ chúc phúc dưới danh nghĩa của “người công chính”, mong rằng người quý tử sẽ có được niềm vui và đức độ tốt đẹp.

Làm thế nào để từ niềm vui yên bình của người dân suy luận ra đức độ vui vẻ và tốt đẹp của vua… Anh ta đã viết đi viết lại từ “niềm vui” vài lần trên giấy, trong đầu cũng xuất hiện ý tưởng sử dụng từ “đức độ” làm manh mối, nhưng lại không thể kết nối các ý tưởng đó lại với nhau một cách rõ ràng.

Thời gian trôi qua từng khoảnh khắc; người giám sát kỳ thi đã đi vòng quanh anh ta hai lần, ánh nắng mặt trời cũng dần nghiêng xuống mái lều thi. Trong khu vực thi, để ngăn chặn gian lận, nếu không hoàn thành bài thi trước giờ quy định, sẽ không được phép thêm nến để tiếp tục làm bài. Chỉ khi hoàn thành bài thi, và chỉ còn lại một hay một nửa bản thảo chưa được sao chép lại thì mới được phép thêm nến.

Nếu không thể hoàn thành bài thi này, thì kỳ thi của anh ta sẽ trở thành một “cuộc ngắm cảnh” mà thôi… Chỉ coi như là một chuyến du lịch ba ngày trong kỳ thi mùa xuân! Nếu không thể hoàn thành cả phần đầu tiên của kỳ thi, làm sao anh ta có thể đứng trước mặt Tạ Anh được? Một người thất bại trong kỳ thi đầu tiên mà không thể hoàn thành bài thi, liệu có xứng đáng để đứng cùng với những công chức xuất sắc của tổ chức Kim Y Thủy Vệ hay không?

Bút của anh ta liên tục vẽ đi vẽ lại chữ “vui” ấy không biết bao nhiêu lần, mực thấm sâu vào tấm gỗ. Cho đến khi mảnh giấy thảo ướt đẫm, anh ta mới bất chợt tỉnh táo lại, nhặt bài thi lên và thổi bay phần mực còn sót lại; ch

Và những âm thanh đức hạnh ấy khi được biểu đạt thành âm nhạc, người dân sẽ được nuôi dưỡng và giáo dục bởi âm nhạc, từ đó tiếp thu được đức tính của quý ông; lòng nhân ái, hiếu thảo, trung thành và vâng lời sẽ lan tỏa, và đất nước cũng sẽ được ổn định, bảo vệ được vua chúa, mọi người từ trên xuống dưới đều sống hòa thuận. Chẳng phải điều này hoàn toàn phù hợp với ý nghĩa ca ngợi đức tính cao quý của quý ông và việc duy trì thiên hạ trong bài thơ “Giả Nhạc” sao?

Chỉ cần sử dụng từ “nhạc”, bài viết đã có hướng rõ ràng!

Thôi Hiệp Vứt bỏ tờ giấy thảo bị ẩm ướt sang một bên, lấy ra một tờ mới và bắt đầu viết từ chính từ “nhạc” – “Đó chính là sự thành công tuyệt vời của việc dùng nhạc để giáo dục con người; qua đó, ta có thể thấy được sự sâu sắc trong đức tính của quý ông!”

“Nhạc chính là sự rực rỡ của đức hạnh”; việc dùng nhạc để giáo dục chính là việc dùng đức hạnh để giáo dục con người. Khi người dân cảm nhận được âm nhạc đức hạnh và hướng theo con đường đúng đắn, chẳng phải đó chính là biểu hiện của đức tính tốt đẹp của quý ông, những người không bao giờ chiếm đoạt vị trí không thuộc về mình sao?

Sau khi giải thích rõ về “đức tính của quý ông”, ông ta liền trực tiếp bàn về phương pháp sử dụng nhạc để giáo dục con người: Quý ông gửi gắm con đường đúng đắn của mình vào những bản nhạc êm đềm, và thông qua những bản nhạc đó, con đường giáo dục sẽ được truyền đạt đến mọi người, giúp đất nước được ổn định!

Những bản nhạc trang nghiêm mang đậm đức tính của quý ông sẽ được lan truyền khắp nơi từ triều đình đến các vùng xa xôi; âm nhạc sẽ giúp tâm hồn của vua chúa và chính sách của nhà nước được truyền đạt một cách trọn vẹn đến trái tim của người dân, hướng dẫn họ sống tốt đẹp hơn; khi người dân thường xuyên được nuôi dưỡng bởi âm nhạc đức hạnh và tiếp thu được đức tính của quý ông, những ham muốn ích kỷ và xấu xa trong lòng họ cũng sẽ dần dần biến mất, giúp cho thiên hạ được yên bình.

Đó chính là việc thay đổi phong tục tập quán, đó chính là hiệu quả của việc sử dụng nhạc để giáo dục con người.

Phần đầu tiên của bài viết đã sử dụng từ “nhạc” để nói về mối liên hệ giữa “đức hạnh” và “niềm vui” của quý ông, giải thích cách mà “niềm vui tốt đẹp” của quý ông trở thành “niềm vui an lành” của người dân, mở rộng chủ đề ban đầu thành toàn bộ nội dung bài viết; phần sau lại quay trở lại với chủ đề ban đầu.

Theo lời của Khổng Tử, những người có đức hạnh lớn lao chắc chắn sẽ nhận được sứ mệ

Nhưng câu hỏi này được đặt ra vào thời đại của Thành Hóa, nên chắc chắn sẽ không được mọi người ưa chuộng; hầu hết các sinh viên trả lời cũng không dám viết những lời phê bình hay khuyên cáo.

Tuy nhiên, anh ta lại muốn thử viết một bài. Không phải để đoán xem người ra đề có ý định gì, mà là để viết bài luận này sao cho hoàn chỉnh và phù hợp với ý nghĩa ban đầu của câu hỏi; đồng thời, với tư cách là một sinh viên của Lý Đông Dương và đã có danh tiếng trong thời gian dài, anh ta cũng xứng đáng thể hiện phẩm chất của một người thầy. Hơn nữa, chỉ cần ám chỉ một chút về việc khuyên nhủ vua chúa chấp nhận lời khuyên, cũng không phải là điều gì đáng ngại; hoàng đế cũng không thể đến nỗi vì anh ta khuyên nhủ mà đày anh ta vào ngục.

—Ngay cả khi bị đày vào ngục, người quản lý ngục còn là bạn trai của anh ta nữa; coi như đó là một kỳ nghỉ trăng mật sớm vậy.

Nếu như các giám khảo không thích bài viết của anh ta, thì cũng chỉ là vì đây là bài cuối cùng trong số năm bài văn Kinh điển mà thôi; chắc chắn không ai sẽ đọc kỹ từng bài. Nếu như các bài trước đó của anh ta đủ tốt, thì anh ta sẽ đỗ; còn nếu không đỗ, thì cũng là do trình độ tổng thể của anh ta chưa đủ, chứ không phải vì những lời khuyên nhủ đó.

Lúc này vẫn chưa đến giờ “Shen”, vẫn còn kịp thêm một phần kết luận nữa.

Ở cuối phần chú giải của bài “Giả Nhạc”, Chu Tzu đã viết: “Khi người ta ca ngợi điều gì đó, lại đồng thời đưa ra lời khuyên, thì đó chính là ý định của Gao Tao khi ông sáng tác bài ‘Geng Ca’.” Điều này chính là minh chứng rõ ràng rằng bài thơ này được viết với mục đích khuyên nhủ vua chúa.

Gao Tao đã viết bài “Geng Ca” để khuyên nhủ Hoàng Đế Yao; ông đã ca ngợi tình hình lúc bấy giờ, khi vua và tôi đều giữ đúng vị trí của mình, vua thông minh, tôi trung thành, mỗi người đều làm tròn bổn phận của mình; đồng thời, ông cũng khuyên Hoàng Đế Yao không nên can thiệp vào những việc nhỏ nhặt, vì điều đó có thể khiến các đại thần trở nên lười biếng và làm hỏng mọi việc. Bài thơ “Giả Nhạc” cũng theo đúng tinh thần khuyên nhủ của các bậc hiền triết xưa, vừa ca ngợi vua chúa, vừa khuyên nhủ các đại thần nỗ lực làm tròn bổn phận, để nhân dân có cuộc sống yên bình.

Anh ta bắt đầu viết rằng Gao Tao và bài “Giả Nhạc” đều xuất phát từ thời đại của các vị vua như Đường, Ngụy, Hạ, Chu, và tất cả đều mang ý nghĩa khuyên nhủ; sau đó, anh ta đặt ra một câu hỏi “Tại sao vậy?” và tự trả lời, từ đó diễn giải con đường của một người tôi.

Khi v

Anh ta lắc đầu cười nhẹ; dù bài viết này có đến tay người ra đề hay không, dù các giám khảo sẽ đánh giá thế nào, anh vẫn tiếp tục sao chép nó một cách từ từ lên giấy chính thức.

Khi gần hết giờ thi, viên quan giám sát trực tiếp đi kiểm tra khu vực thi. Thấy trên bài thi của anh ta chỉ còn lại một bản thảo chưa được hoàn thành, và những dòng chữ được viết một cách từ tốn, ông đã dùng con dấu đỏ để đánh dấu bản thảo đó, rồi gật đầu với vị hiệu úy đi kiểm tra và cho phép anh ta sử dụng ba cây nến.

Vào buổi chiều tà, tất cả mọi người trong khu vực thi đều được cung cấp nến. Vị hiệu úy mang đến một cái đèn nến, tự mình thắp lên, còn hai cây nến khác thì được để sang một bên. Thôi Hiệp cuối cùng cũng không sử dụng hết ba cây nến; khi cây nến đầu tiên cháy hết, mười hai tờ giấy đã được sao chép một cách rõ ràng và sạch sẽ, không còn dấu vết mực nào cả.

Anh ta không cho bản thân cơ hội hối tiếc hay sửa đổi lại bài viết nữa, cuộn giấy lại và đi đến nơi nhận bài thi, làm thủ tục đăng ký tên, sau đó rời khỏi khu vực thi.

Người nhà của hai gia đình Cui và Li đang đợi bên ngoài, lo lắng hỏi anh ta tại sao hôm nay lại ra ngoài muộn đến vậy, kết quả thi thế nào, liệu anh ta có tự tin vào bài thi của mình không. Thôi Hiệp bình tĩnh lắng nghe họ hỏi, nhờ người nhà nhà Li cảm ơn sự quan tâm của thầy giáo, rồi sai Thôi Gia đi theo để báo tin về nhà, còn bản thân thì cưỡi con ngựa nhỏ, nhìn về phía cửa hàng nhỏ đối diện khu vực thi, nơi có một người đang dùng thứ gì đó để nuôi ngựa.

Người đó mặc một chiếc áo choàng đen, nửa khuôn mặt bị che khuất, chỉ lộ ra đôi môi hơi cong lên và đường nét cằm vuông vắn, mạnh mẽ. Nhưng Thôi Hiệp ngay từ cái nhìn đầu tiên đã nhận ra khuôn mặt của anh ta qua bóng áo choàng, và cảm thấy yên lòng cùng niềm vui, liền mỉm cười với anh ta.

Người đó cũng mỉm cười và gật đầu nhẹ, sau đó lên ngựa và biến mất trên con phố dài.

Những người nhà bên cạnh thấy anh ta mỉm cười về phía khoảng trống đối diện, không hiểu chuyện gì liền hỏi: “Thưa công tử, bên kia có gì vậy ạ?”

Không có gì cả… Chỉ có người mà anh ta mong muốn gặp nhất mà thôi.

Thôi Hiệp vẫn mỉm cười, không giải thích gì thêm, chỉ cưỡi ngựa lên và nói: “Hãy trở về đi, ngày mai vẫn cần phải thuộc bài thi cho thầy giáo xem mà.”

1/1 0%