lore

Chương 121

13,203 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Dù trong dịp Tết Trung Thu, ông Lục cùng các bạn đồng trang lứa đi chơi, nhưng ông vẫn không quên trách nhiệm của một người thầy, và đã để lại bài tập cho học sinh trước khi rời đi.

Sau kỳ nghỉ, Hòa Ca đã ngoan ngoãn nộp cho ông một đống giấy viết chữ lớn, và thuộc lòng được bài “Thiên tự vạn lý” gồm một ngàn từ; dù không phải thi cử, nhưng cũng cần phải thuộc lòng vài bài văn cổ để nuôi dưỡng tâm hồn và văn hóa Trung Hoa. Cả hai đều đi học vào ban ngày, còn Hòa Ca thì phải đi làm vào buổi chiều; chỉ sau khi học xong vào buổi sáng, anh mới có thể nghỉ ngơi. Sau bữa tối, đến lượt Thôi Hiệp mang bài tập đến nhờ ông góp ý.

Đề bài là một bài thơ về việc ngắm trăng, một thể loại rất phổ biến từ xưa đến nay. Những người viết bài thơ này không hề miêu tả về ánh trăng, mà thể hiện tình cảm của mình khi ngắm trăng. Có người ngắm trăng mà nhớ nhà, có người ngắm trăng mà nhớ người thân, có người ngắm trăng mà suy ngẫm về thời cuộc… Chỉ qua những bài thơ, người ta có thể thấy được tầm vóc và phẩm chất của con người.

Lục Cử Nhân nhận lấy bài tập, lấy ra một cây bút nhỏ, vừa đọc vừa dùng mực đỏ gạch những chấm lên trang giấy.

Bài thơ của Thôi Hiệp dù chưa có câu nào đặc biệt đáng được ghi chú, nhưng nội dung giản dị, ngôn từ rõ ràng, cảm xúc được kiểm soát một cách vừa phải, phù hợp với yêu cầu của thể loại văn học “đài khí”. Mặc dù việc viết về sự chia ly khi nhìn thấy ánh trăng là một cách rất thông thường, nhưng cách diễn đạt của anh không quá bi thương, và còn thể hiện được tâm hồn rộng lớn của mình; điều này đủ để được khen ngợi.

Anh đã viết: “Bầu trời trong xanh ánh trăng rọi sáng khắp nơi, gió cao làm cho ve sầu rung động. Mùa thu bắt đầu từ đêm nay, ánh trăng tròn đầy dành cho người xa xôi. Xưa nay ánh trăng luôn chiếu sáng mọi nơi, nhưng mỗi vùng đất lại có vẻ đẹp riêng. Khi lên lầu không cần phải cúi đầu chào, chỉ mong nhớ về thời gian trôi qua.”

Ông Lục đọc xong liền cười và nói: “Tôi bảo em phải rèn luyện kỹ lưỡng theo quy tắc văn chương, nhưng em lại tự ý sử dụng những cách diễn đạt phức tạp… Sao vậy, em thật sự không tìm được từ nào khác à?”

Thôi Hiệp cười và nói: “Đúng là tôi viết không tốt lắm. Ban đầu tôi muốn viết ‘Mùa thu bắt đầu từ đêm nay, ánh trăng tròn đầy dành cho người xa xôi’, nhưng lại cảm thấy từ ‘nay’ trùng với từ sau, nên tôi đã thay đổi cách sử dụng âm thanh trong câu.”

Và trong bài thơ đó, “người xa xôi” thực ra chính là bản thân anh – không phải là ông Cui hay cậu con

Khi gạt bỏ những công việc bận rộn hàng ngày, những nghiên cứu học tập, và cả những suy nghĩ về mối quan hệ đó – thứ đã chiếm hết khoảng thời gian rảnh rỗi của anh – điều vẫn luôn xoay cuồng trong tâm trí anh chính là nỗi nhớ về thế giới trước khi anh được chuyển đến này.

Thôi Hiệp Thở dài một tiếng; ông Lục, người đang chấm thi bên cạnh, cũng thở dài theo.

Lục Cử Nhân Bản thân anh cũng là người xa xứ, đến Bắc Kinh để theo đuổi con đường khoa cử. Nhà anh còn có vợ con và người thân; vào dịp Trung Thu, nỗi buồn chia ly càng đè nặng lên tim anh… Những suy nghĩ về sự chia ly quá đỗi thông thường này lại chính là điều khiến anh liên tưởng đến chính mình.

Anh đọc hết bài thơ đó, đánh dấu một số chỗ và giải thích rõ những phần không chuẩn xác về mặt ngữ pháp hay không phù hợp với tâm trạng của bài thơ về mùa thu.

“Kim cổ nhất thống chiếu, giang sơn tự kỳ yên” – câu này không được viết một cách chuẩn xác lắm. Về mặt từ ngữ, “kim cổ” và “giang sơn” không hợp lý lắm; về mặt nhịp điệu, cụm từ “nhất thống chiếu” và “tự kỳ yên” cũng không đồng bộ với nhau. Đây thực sự là một sai sót lớn.

Câu này lại nằm ở vị trí “cặp câu cuối cùng” của bài thơ; các câu khác có thể không đối xứng hoặc không được viết một cách chuẩn xác, nhưng câu này thì nhất thiết phải đúng về mặt ngữ pháp và ý nghĩa. Khi đối xứng các từ trong câu, việc sử dụng những từ đối lập nhau thường được coi là tốt hơn so với việc sử dụng những từ tương đồng; ý nghĩa của hai từ đối lập nhau mới thực sự tạo nên sự sinh động cho câu thơ.

Thôi Hiệp Gật đầu liên tục và giải thích: “Tôi chỉ tập trung vào ý nghĩa về sự thay đổi của giang sơn qua các thời đại, nên câu này không được viết một cách chuẩn xác.”

Khi viết câu này, anh nghĩ đến việc mình đã từng chứng kiến cảnh trăng của hai thời đại cách nhau năm trăm năm; mặt trăng vẫn giữ nguyên vẻ đẹp sau hàng tỷ năm, nhưng cuộc sống ở hai thời đại đó lại hoàn toàn khác nhau. Anh viết câu đó một cách tự nhiên, mà không quá chú trọng đến vấn đề ngữ pháp.

Ông Lục cười và nói: “Viết thơ không giống như viết văn; không cần phải diễn đạt những ý tưởng cao siêu của các bậc hiền triết, chỉ cần viết ra những suy nghĩ của bản thân mình là đủ rồi. Nếu bạn muốn viết về nỗi buồn chia ly, hãy bắt đầu từ những điều nhỏ nhặt, ví dụ như cảm thấy nhớ người thân khi tham gia bữa tiệc vui vẻ, hoặc cảm thấy buồn khi nghe tiếng thu… Không cần phải đề cập đến những thay đổi lớn lao của lịch sử. Bạn còn quá trẻ; thậm ch

Khi giảng về thơ ca, cũng không thể chỉ nói về quy tắc vần điệu một cách hời hợt; nếu không, người nghe sẽ cảm thấy rối rắm và khó hiểu. Ông Lục ban đầu muốn dùng bài thơ mẫu mà mình đã viết để minh họa, nhưng sau đó lại nghĩ rằng việc sửa đổi thơ phải tuân theo ý định ban đầu của học sinh; sau khi sửa xong, không chỉ cần loại bỏ những thiếu sót, mà còn phải nâng cao tầm văn hóa của bài thơ nữa. Nếu chỉ vì muốn sửa đổi quy tắc vần điệu mà thay đổi bài thơ, và áp dụng từng phương pháp khác nhau để giảng dạy, thì bài thơ sẽ trở nên lộn xộn và mất đi tính hoàn chỉnh, điều này cũng không có lợi cho việc học sinh rèn luyện kỹ năng viết văn.

Ông là một người tốt bụng, nên quyết định dùng bài thơ về Tết Trung Thu mà mình đã viết trước đây làm ví dụ. Ông viết ra hai câu “Ngọc lầu lạnh lẽo xa xôi, Châu bạc soi chiếu cũng trống rỗng”, rồi nói với Thôi Hiệp: “Trước đây tôi chưa từng dạy bạn về cấu trúc của hai câu này; sau này bạn hãy nhớ rằng, những câu như thế này không được coi là câu gây khó hiểu trong thơ, và cũng không cần phải sửa đổi gì cả.”

Trước đây, những gì ông dạy Thôi Hiệp đều là các kiểu cấu trúc cơ bản như “bình bình bình tờ tờ, tờ tờ tờ bình bình”. Nhưng nếu có những câu như hai câu này, nơi chữ đầu tiên trong câu nên dùng thanh bình nhưng lại dùng thanh tờ, hoặc ngược lại, thì những câu đó vẫn được coi là đúng quy tắc và không cần phải sửa đổi gì cả.

Trong bốn kiểu cấu trúc của thơ ngũ ngôn, có ba kiểu mà chữ đầu tiên trong câu có thể thay đổi linh hoạt giữa thanh bình và thanh tờ; chỉ có kiểu “bình bình tờ tờ bình” là chữ đầu tiên không thể thay đổi thành thanh tờ được. Bởi vì nếu làm như vậy, trong câu thơ sẽ chỉ còn lại một âm thanh bình, và tình huống này được gọi là “cô bình”, tức là một câu thực sự gây khó hiểu, và chắc chắn phải được sửa đổi trong câu tiếp theo.

Lục Cử Nhân đưa ra một ví dụ: “Trong trường hợp này, bạn chỉ cần thay đổi chữ thứ ba trong câu thành chữ thanh bình là được. Trong bài thơ của tôi, không có trường hợp nào cần phải sửa đổi trong cùng một câu… Câu của Lý Bạch ‘Tôi nghỉ ngơi dưới gốc cây ngũ tùng, yên tĩnh và không có niềm vui nào’, trong câu đầu tiên, chữ thứ ba lẽ ra phải là thanh bình nhưng lại dùng thanh tờ; tuy nhiên, việc thay đổi thanh bình/tờ của chữ thứ ba này có thể được sửa hay không cũng tùy vào hoàn cảnh; trong câu thứ hai, chữ đầu tiên cũng lẽ ra phải là thanh bình nhưng lại dùng thanh tờ, và câu này có nguy cơ trở thành câu cô bình, vì vậy người ta đã thay đổi chữ thứ ba thành ch

Lục Cử Nhân vừa nói về các phương pháp khắc phục, vừa nhìn chiếc bút chì trong tay Thôi Hiệp mà không hài lòng: “Sao lại dùng loại bút này để viết nữa vậy? Đừng để thành thói quen, kẻo làm xấu kỹ thuật viết lách; sau này khi thi cử, nếu chữ viết kém đi, sự nghiệp của con sẽ bị ảnh hưởng đấy!”

Thôi Hiệp vội vàng ghi chép xong rồi giải thích: “Viết như vậy chỉ để tiết kiệm thời gian, tránh làm gián đoạn suy nghĩ của thầy. Sau này tôi sẽ dùng bút mực viết lại từ đầu một cách cẩn thận. Thầy không biết đâu, loại bút này rất tiện dụng và giá rẻ; nếu viết sai, có thể dùng bánh bao lau đi được…”

Nghe đến bánh bao, ông Lục lập tức cau mày: “Điều đó không phải là lãng phí lương thực sao?”

Thôi Hiệp vội vàng giải thích tiếp: “Cũng có thể lau đi hoặc không lau cũng được. Nếu viết trên bảng màu nhạt hay trên tường, chỉ cần rửa bằng nước là sạch ngay, và có thể viết lại nhiều lần. Bây giờ người giúp việc trong nhà chúng tôi cũng dùng loại bút này để viết danh sách món ăn; Quản sự cũng dùng nó để ghi chép công việc gia đình. Nếu có việc gì quên, chỉ cần nhìn vào hoặc hỏi người khác là sẽ nhớ ngay. Tối đến, rửa sạch bằng nước, ngày hôm sau lại có thể tiếp tục sử dụng, rất tiện lợi mà không tốn kém.”

Lục Cử Nhân, với tư cách là một người học giả luôn lo lắng cho sự thịnh vượng của đất nước, nghe xong liền nghĩ đến những học sinh nghèo không đủ khả năng mua bút mực, và hỏi: “Nếu vậy, loại bút này thực sự rất hữu ích. Những người nghèo không có điều kiện mua giấy mực, nếu có cây bút này, họ cũng có thể ghi chép và sao chép văn bản được chứ?”

Tất nhiên là được! Loại bút chì tuyệt vời như thế này thậm chí còn có thể sử dụng trên tàu vũ trụ, phạm vi ứng dụng của nó rộng hơn nhiều so với bút lông.

Anh ta đã thử viết trước mặt ông Lục và nói: “Chúng tôi cũng nghĩ như vậy. Những em học sinh xuất thân từ gia đình nghèo, không có tiền mua giấy mực, có người chỉ có thể luyện viết bằng cát hoặc nước sạch; viết vài chữ xong lại phải lau đi. Nhưng với cây bút này, người ta có thể vót đầu bút thật nhọn, viết những chữ nhỏ xíu mà vẫn rõ ràng, tiết kiệm giấy và viết nhanh hơn nhiều.”

Ông Lục tự mình thử viết, nhưng thấy không thoải mái lắm; chữ viết lệch lạc, đầu bút còn trượt trên giấy nữa, liền đặt bút xuống và hỏi: “Thật sự có thể luyện được không?”

Thôi Hiệp lật cuốn sổ ghi chép ra và cho ông Lục xem những bức thư pháp viết bằng b

Loại bút này ban đầu cũng không phải được thiết kế để luyện viết hoặc sử dụng trong các kỳ thi học vấn, mà là dành cho những đứa trẻ học giáo hay người dân bình thường những người nhớ sách vở nhưng không đủ khả năng mua giấy bút tốt để ghi chép thông tin.”

Lục Cử Nhân Lấy cây bút đó ra thử lại, anh ta dùng sức mạnh hơn một chút, và đầu bút đã xé rách tờ giấy, để lại một vết sẹo. Anh ta tức giận đến mức bỏ tờ giấy xuống, rồi từ từ viết vài chữ lên tấm gỗ. Những chữ viết vẫn không đẹp lắm, nhưng anh ta không quan tâm đến điều đó. Anh ta dùng khăn lau nước và dễ dàng làm sạch cả tấm gỗ. Sau khi viết thêm vài chữ nữa và lau lại, anh ta nhìn thấy tấm gỗ vẫn còn phẳng và sạch sẽ, không hề có dấu vết của mực.

Anh ta hoàn toàn hiểu được lợi ích của cây bút chì này và thốt lên: “Nếu những thầy cô giáo ở các trường học nông thôn có được loại bút và tấm gỗ như thế này, họ sẽ có thể sao chép các bài viết để học sinh tiểu học đọc, tiết kiệm được bao nhiêu tiền mua sách! Điều đó cũng sẽ giúp cho bao nhiêu người nghèo có cơ hội học hành và biết phép tắc?”

Ở nông thôn, những tấm gỗ vụn hay đá không có giá trị lắm, nhưng giấy dùng để viết thì ít nhất cũng phải mất sáu phần bạc mỗi tờ; còn những cây bút lông thì ít nhất cũng ba phần bạc mỗi cây…

Anh ta vội vàng hỏi: “Một cây bút như thế này giá bao nhiêu?”

Thôi Hiệp Tính toán một chút: “Hiện nay, do lượng nguyên liệu đốt ít, chi phí sản xuất mỗi lần nung lò rất cao; chỉ khi sản lượng tăng lên thì giá mới có thể giảm dần. Nếu tính cả chi phí nguyên liệu để làm ruột bút, đất sét và công đoạn nung lò, thì tổng giá của một pound ruột bút khoảng ba phần bạc; còn phần gỗ bọc bên ngoài thì cần phải ngâm trong vôi để mềm ra, sau đó mới có thể gia công thành hình, vì vậy giá cũng sẽ cao hơn một chút. Nếu không quá quan tâm đến sự thoải mái khi viết, người ta cũng có thể tự mua ruột bút về, bọc bằng giấy cỏ hoặc dây rơm, rồi sử dụng nó để viết.”

Lục Cử Nhân Nghe xong, anh ta cảm thấy hoang mang. Một cây bút lông rẻ nhất cũng ba phần bạc, giấy là sáu phần bạc mỗi tờ, còn ruột bút chì này chỉ ba phần bạc mỗi pound? Một cây bút dài như vậy, nhìn Thôi Hiệp viết mà thấy nó cũng không ngắn đi chút nào; có lẽ nó đủ để sao chép cả một cuốn sách phải không?

Mặc dù có nhiều người thường dùng bút lông hoặc than để viết, nhưng những thứ đó không thể được coi là những cây bút chính thức; chúng chỉ thích hợp để viết những chữ lớn và khó có thể xóa

Ông Lục thật sự có phong cách của một học giả, nhưng kiểu phong cách đó cũng khá dễ thương đấy. Những người tốt bụng hiện nay quyên góp cho các vùng núi nghèo khó, họ cũng đều giống như vậy phải không?

Thôi Hiệp Cười và nói: “Loại mực này mới chỉ được thử nghiệm thôi, chưa được sản xuất hàng loạt đâu. Hiện tại, chúng ta chỉ sử dụng nó trong gia đình mình thôi, và cũng để ở ngoài cửa hiệu sách của anh Tiểu Khai, để những học sinh nghèo có thể sao chép sách. Khi sau này chúng tôi xây dựng xưởng sản xuất mực, và có thể sản xuất ra hàng trăm kíl mực, lúc đó chúng tôi sẽ mời ông đến các trường học để giúp nhiều trẻ em khác cũng có cơ hội được học.”

“Tốt! Tốt! Tốt!” Lục Cử Nhân Dường như ông đã hình dung ra cảnh những đứa trẻ nghèo đang cầm bút chì viết lách trên bàn, dần dần học cách đọc sách; ông quá hào hứng đến nỗi không muốn ông ấy sửa lại bài thơ nữa: “Cứ từ từ đi, sau này khi bạn thấy hứng thú, hãy viết một bài thơ ngũ luật ca ngợi loại bút mực này đi. Không cần tuân theo quy tắc về âm điệu hay cấu trúc bài thơ, cứ thoải mái sáng tạo… Khi bạn hoàn thành bài thơ đó, tôi sẽ bắt đầu dạy bạn cách viết thơ cổ điển.”

1/1 0%