Chương 101
Thôi Hiệp đã luyện kiếm cả buổi sáng tại Hạ gia; thời tiết lại rất nóng, và vào bữa trưa, anh ta còn uống thêm hai ly rượu, khiến người mình đẫm mồ hôi. Sau bữa ăn, Tạ Anh bảo người chuẩn bị nước để anh ta tắm rửa và thay quần áo sạch.
Áo lót của anh ta đã được mang đi giặt, và vì cần thời gian khá lâu mới khô, nên anh ta phải để nó lại tại Hạ gia, đợi lần sau gặp nhau sẽ lấy về. Trong khi đó, bộ đồ luyện võ mà anh ta đã thay trước đó vẫn còn khô ráo, nên anh ta có thể mặc ngay khi trở về.
Hạ gia đã cho người đặt một chiếc ghế dài dưới gốc cây trong sân, để Thôi Hiệp nằm nghỉ và để mái tóc khô. Tạ Anh cũng ngồi bên cạnh, lướt qua cuốn sách “Lục Tài Tử Phê Bình Tam Quốc” vừa ra mắt.
Mặc dù hiện nay Tạ Thiên Hộ ít nói chuyện hơn và thái độ cũng có phần lạnh lùng hơn, nhưng vẫn luôn quan tâm đến anh ta, cho phép anh ta tắm rửa và thay quần áo tại nhà mình, không cần phải trở về trong tình trạng đẫm mồ hôi. Thôi Hiệp cảm thấy việc hai người ở bên nhau yên bình như vậy cũng rất tốt. Bóng râm từ gốc cây rất mát mẻ, ánh nắng không gay gắt; nhìn lên là những quả nho non xanh biếc, trông thật mát mẻ và dễ chịu.
Anh ta ngồi trong sân, nhắm mắt ôn lại những ghi chú đã học, bên cạnh là đồ ăn vặt; khi cảm thấy mỏi mệt, anh ta lại mở mắt nhìn những quả nho treo trên gốc cây, và thế là anh ta đã thoải mái trải qua cả buổi chiều như vậy.
Đôi khi, khi thấy Thôi Hiệp dường như đang ngủ, Tạ Anh muốn gọi anh ta vào nhà nghỉ ngơi, nhưng chưa kịp tiến lại gần thì Thôi Hiệp đã mở mắt nhìn xung quanh; vì vậy, Tạ Anh chỉ im lặng ngồi xuống, tựa vào cái cây cổ sau lưng và tiếp tục đọc sách.
Khi mặt trời bắt đầu lặn, Tạ Anh không bảo Thôi Hiệp nằm nghỉ nữa, vì sợ gió lạnh làm ẩm tóc và gây bệnh. Tóc của Thôi Hiệp khá dày, và sau nửa ngày nằm ngoài trời, tóc vẫn chưa thực sự khô hẳn; vì vậy, anh ta chỉ buộc tóc lại và đeo một chiếc khăn lụa mềm mà Hạ gia đã chuẩn bị sẵn. Tạ Anh không bảo anh ta ăn tối nữa; thấy trời đã muộn, người ta liền giúp anh ta mặc lại bộ quần áo ban đầu và nói: “Ngày nay là ngày bạn hiếm khi có thời gian nghỉ ngơi; gia đình chắc hẳn đang đợi bạn ở nhà đấy, đừng ở ngoài suốt cả ngày nhé.”
“Thực ra, đến lúc này rồi, còn khác gì so với một ngày bình thường nữa chứ.”
Thôi Hiệp cười và lắc đầu, vẫy tay chào tạm biệt anh ta rồi lên xe ngựa trở về nhà họ Cui. Gia đình đã chờ anh ta cả một ngày; khi thấy anh ta bước xuống từ chiếc xe, mọi người không kịp báo tin cho trong nhà mà vội vàng đến chào đón, kể cho anh ta nghe về việc quan huyện đến trao giải.
Thôi Hiệp trước tiên chào tạm biệt Xie Shan, nhờ anh ta gửi lời cảm ơn đến chủ nhân, sau đó hỏi người hầu: “Tại sao quan huyện lại nghĩ đến việc đến nhà chúng tôi?”
Người hầu cau mặt nói: “Chàng trai mà các người vừa nói đó chắc chưa để ý phải không? Quan huyện đến để khen ngợi việc gia đình chúng tôi giúp đỡ người già và trẻ em mồ côi; ông ấy còn mang theo một tấm bảng danh dự nữa, bây giờ đã được treo ngay ở cửa vào của nhà chính rồi. Bà lão đã chờ chàng trai cả một ngày; ông Lu cũng đang chờ chàng trai trở về đấy.”
Vậy thì sau này phải tìm thời gian đến tòa án quận để cảm ơn quan huyện mới được.
Thôi Hiệp gật đầu một cách thoáng qua, sau đó vào phòng thay đồ và đi thăm hai vị tổ tiên ở nhà chính. Khi bước ra sân, anh ta nhìn thấy tấm bảng danh dự được treo trên xà nhà; tấm bảng màu đen với nội dung được viết bằng mực đỏ, bốn chữ được viết rất chuẩn xác và đẹp mắt. Dù không được sơn vàng, nhưng dưới ánh nắng mặt trời, màu đen của nó vẫn tỏa ra vẻ sang trọng.
Đối với những người học giả như họ, phẩm giá là điều quan trọng nhất; dù tấm bảng này không giống như cái cổng thành ở quê hương có thể tôn vinh tổ tiên và được truyền lại cho đời sau, nhưng nó cũng coi là một vật rất có giá trị.
Anh ta đứng ngoài đó ngắm nhìn một lúc trước khi bước vào nhà. Lúc này, ông Lu đã đợi anh ta đến nỗi không thể ngồi yên trong sân nhà mình; ông đang dạy Hoà Ca viết chữ ở nhà chính. Khi Thôi Hiệp bước vào, ông Lu liền nhìn thấy anh ta và chào hỏi. Nhìn thấy bộ quần áo lụa rực rỡ và chiếc khăn đầu của anh ta, ông Lu kiềm chế nỗi nóng lòng trong lòng và nói một cách bình tĩnh: “Con đã trở về rồi à. Đúng lúc này thì tôi đang dạy Hoà Ca viết chữ; con hãy thử viết vài nét để làm gương cho cậu bé ấy nhé.”
Thôi Hiệp đáp lại “Vâng”, sau đó đi thăm ông bà nội. Bà lão lại kể lại một lần nữa về việc quan huyện đến nhà họ và khen ngợi gia đình họ vì lòng nhân ái và sự hiếu thảo. Nói đến đó, bà lão nhớ ra việc phải gọi người mang thức ăn lên ngay, và cười nói: “Hôm nay con không ở nhà, may mắn thay ông
」
Ngay cả Thôi Hiệp cũng bị ông ta giám sát chặt chẽ; đối với anh trai mình, ông ta thậm chí không dám nhìn vào bình rượu, chỉ cúi đầu ăn uống, không cảm nhận được hương vị của thức ăn.
Cuối cùng, khi bữa ăn kết thúc, Lục Cử Nhân lập tức gọi người dọn dẹp bàn và yêu cầu Thôi Hiệp viết vài bản “Thiên Tự Văn”, sau đó ông ta tự tay đánh dấu các chỗ cần chú ý bằng màu đỏ và bảo anh trai mình mang về để luyện viết.
Thôi Hiệp có vẻ hơi ngại ngùng và nói với anh trai mình: “Chữ của em cũng bình thường thôi; anh trai nên học theo các bia đá thì tốt hơn.”
Lục Cử Nhân trả lời: “Là em trai, việc học theo chữ viết của anh trai là điều hiển nhiên. Nếu em lo lắng về chất lượng chữ, sau này em có thể tự luyện thêm, và khi đã tiến bộ hơn, em có thể thay thế bài viết này.”
Anh trai Thôi Hiệp không nhận ra điểm khác biệt nào trong chữ viết của hai người; anh chỉ nghĩ rằng người anh trai mình là một nhân vật quan trọng, nên chữ viết của anh ấy chắc chắn phải rất tốt. Thế là anh liền bắt đầu luyện viết theo bản sao đó. Lục Cử Nhân đã ép anh viết suốt buổi chiều; bây giờ thấy anh mệt mỏi, ông liền vẫy tay và nói: “Em đã viết khá nhiều rồi, hãy cẩn thận kẻo làm tổn thương tay; về nghỉ đi, để anh giải thích sách cho anh trai em.”
Anh trai Thôi Hiệp liếc nhìn thầy một cái, thấy ánh mắt của thầy đang dõi theo anh trai mình, không quan tâm đến mình, liền vui vẻ chạy đi.
Thôi Hiệp vừa muốn hỏi thầy một số điều, vừa thu dọn lại những tờ giấy lung tung trên bàn, rồi nói với thầy Lu: “Học trò cũng có điều muốn xin thầy chỉ giáo. Mấy ngày trước, người dạy khoa học cổ truyền Lâm Giám Thành nói rằng câu đối của em chưa đủ uyển chuyển và du dương; ông ấy bảo em nên nghe thêm nhiều bài nhạc và học cách viết lời nhạc. Không biết thầy có thể chỉ dạy em không?”
Thầy Lu suy nghĩ một lúc rồi hỏi: “Em muốn học nhạc Bắc hay nhạc Nam? Để học cách viết lời nhạc, trước hết em cần nắm vững âm luật. Tôi thường không quan tâm đến những thứ đó, nên không thể dạy em về hệ thống âm giai ‘Sáu Cung Mười Một Điệu’ được. Việc sử dụng vần điệu trong nhạc cũng khác với thơ ca; nếu em muốn học, em nên tự mình tìm đọc cuốn ‘Trung Nguyên Âm Dụng’ của Gao An và cuốn ‘Thái Hòa Chính Âm Phổ’ của Ninh Hiến Vương, sau đó tìm một thầy để học nhạc. Nếu không hiểu về giai điệu, việc học thuộc lòng hơn 600 bài nhạc thuộc hệ thống ‘Sáu Cung Mười Một Điệu
“Em cũng đã học theo tôi vài ngày rồi đấy, viết thơ thì sao rồi? Chưa nắm vững luật thơ mà lại phải điền lời và sáng tác giai điệu nữa, em có đủ thời gian để học những thứ này không?”
Khi nhắc đến chữ “thơ”, Thôi Hiệp bỗng im lặng, cúi đầu nói: “Thầy dạy tất cả tôi đều nhớ rồi, chỉ là e rằng suy nghĩ của em chưa được mở rộng, nên những bài thơ em viết ra trở nên cứng nhắc và khô khan.”
Ông Lục nói: “Viết nhiều lần rồi thì sẽ mở rộng tư duy thôi. Em đã viết bao nhiêu bài báo cho đến nay, trong khi chỉ mới viết vài bài thơ thôi? Bài báo thường là những câu văn tự do, ngay cả khi sử dụng luật âm thanh kiểu “tám bát” cũng không quá khắt khe. Nhưng viết thơ thì mỗi câu đều phải tuân theo luật âm thanh, vì vậy ban đầu viết ra có thể sẽ không thuận tiện lắm. Tôi sẽ đưa cho em một đề tài, em hãy thử viết xem, để tôi xem liệu em có thực sự chăm chỉ học trong những ngày qua hay không.”
Vừa mới chơi một ngày trở về, đã phải đối mặt với bài kiểm tra về những nội dung chưa được ôn tập trước, thật là bi thảm. Nếu biết trước ông Lục đang chờ mình ở đây, anh ta sẽ không bỏ qua việc ôn tập hai ngày trước, mà sẽ viết một bài thơ sẵn từ trước.
Đáng tiếc, viết thơ không giống như viết bài báo; nếu chỉ dùng các đề tài từ “Tứ Thư” và “Kinh điển” thì vẫn có thể đoán trước được nội dung. Nhưng chiều nay, anh ta chỉ có thể tập trung vào viết thơ mà thôi, và những bài thơ anh ta viết ra cũng không đáp ứng được yêu cầu của thầy.
Anh ta quyết định đứng dậy và nói: “Xin thầy đưa đề tài cho em.”
Ông Lục đã suy nghĩ kỹ càng trong suốt buổi chiều, và liền đưa ra đề tài: “Cha mẹ của em đến thăm em, chắc chắn là vì danh tiếng hiếu thảo của em mà thôi. Tình cảm em chăm sóc người già ở nhà đã được mọi người chứng kiến, nhưng cha em đang công tác xa nhà, chưa có cơ hội để bày tỏ tình cảm. Vậy thì em hãy viết một bài thơ để bày tỏ nỗi nhớ nhé.”
…Ông ấy còn nhớ đến Cui Can Giả nữa à?
Anh ta thực sự muốn đến Bộ Hành chính để trả tiền cho ông ta để kéo dài thời gian giữ chức vụ, để ông ta mãi mãi không bao giờ trở về kinh thành! Anh ta đã vất vả chuyển nhượng tài sản ở nhà, tất cả chỉ là để tránh xa vị đại nhân này mà thôi. Nếu trong nhà chỉ có ông bà và hai em gái của mình, anh ta hoàn toàn có thể công khai thừa nhận rằng Cư An Trại là người trong gia đình mình.
Nhìn thấy vẻ không muốn của anh ta, ông Lục nhếch mép, lạnh lùng nói: “Những ngày này, em chẳng hề đọc những gì tôi dạy phải không? Em tự chọn
Ông Lục nhìn thấy vẻ mặt và tốc độ viết thơ của cậu bé, liền biết rằng trong những ngày gần đây, tiến bộ của cậu ta không mấy nổi bật, và không khỏi lắc đầu.
Cuối cùng, khi cậu bé ngừng viết, ông Lục lấy bài thơ ra xem. Thực ra, cậu ta đã chọn được những âm điệu phù hợp cho bài thơ, nhưng câu thứ hai của phần giữa không đối xứng một cách chuẩn xác, và nhịp điệu của các câu cũng không sôi động lắm; ba câu cuối cùng đều có nhịp điệu 2-2-1. Nếu phải tìm điểm tích cực trong bài thơ này, thì có lẽ là phần sau đã có sự thay đổi về nội dung, không chỉ đơn thuần nói về tình cảm gia đình mà còn thể hiện mong muốn sẵn lòng chịu đựng sự chia ly để phục vụ đất nước.
Ban đầu, ông Lục dạy Thôi Hiệp viết thơ loại ngũ ngôn luật theo yêu cầu của quan chức, và vì đó, việc đề cao lòng trung thành với vua và tổ quốc là điều cần thiết; các khía cạnh về từ ngữ và nhịp điệu có thể được điều chỉnh sau này.
Nói chung... ông Lục khen ngợi Thôi Hiệp vì tầm nhìn cao xa khi đọc bài thơ của cậu ta, và điều đó quả thực là đúng.
Ông Lục vẽ hai vòng tròn trên bài thơ và bắt đầu chỉ trích: Câu thứ hai của phần đầu gặp phải vấn đề về âm điệu, vì từ “con” xuất hiện liên tiếp hai lần; trong phần thứ hai, cụm từ “dòng nước chảy” và “phía nam Điền Nam” không đối xứng một cách hoàn hảo, và từ “chảy” cũng thuộc nhóm âm thanh nhỏ, gây ra sự không hòa hợp về âm điệu; câu “Mơ về phía nam Điền Nam” lại sử dụng cùng một âm điệu, không được coi là chuẩn xác; trong phần giữa, cụm từ “sông Xanh” và “hồ Er” được đối xứng một cách quá cố ý...
Ông Lục trả lại bài thơ và nói một cách tức giận: “Viết thơ phải xuất phát từ tâm hồn, nhưng bài thơ của cậu ta chỉ là sự làm qua loa, hoàn toàn không thể cảm nhận được tình cảm sâu đậm giữa cha con. Không biết cậu ta suốt ngày đi đâu mà tâm trí cứ như không ở nhà... Chưa kể đến nội dung thơ, ngôn ngữ cũng rất kém, hãy sửa lại cho đúng trước đã.”
Dù bị ông Lục mắng mỏ, nhưng khi nhớ lại những khoảnh khắc thư thái trước đây cùng Hạ gia, Thôi Hiệp vẫn cảm thấy vui vẻ; cậu ta không cố gắng tìm kiếm những cảm xúc buồn bã hay nhớ nhung nào cả, mà chỉ sửa những lỗi mà ông Lục đã chỉ ra, rồi viết lại một bài thơ mới một cách cẩn thận: “Ngồi nhìn én bay trước sân, cha con cùng thở dài buồn bã. Mong được bay theo đôi cánh, mơ về những chuyến du hành trên thuyền công vụ. Nhớ lại cây liễu bên sông Xanh, xin đừng vương víu quanh thuyền trên hồ Er. Tình cảm gia đình thật quý giá, nhưng không dám quên đi nỗi
Chưa có truyện phù hợp.