Chương 7: Ba người Hán đi cùng nhau
Nhưng niềm vui không kéo dài lâu; bên trong Đông Tấn lại liên tục xảy ra những cuộc nội chiến. Cái gọi là “vua và ngựa cùng chia sẻ quyền lực” không chỉ đơn thuần có nghĩa là hoàng đế cùng với phe do Vương thị dẫn đầu cùng nhau xây dựng chính quyền mà thôi. Phía sau vẻ bề ngoài hòa thuận ấy, thực chất là những cuộc tranh giành quyền lực. Hoàng đế muốn giành lại quyền lực tối cao, trong khi các phe phái khác cũng đang đấu tranh để giành lợi ích riêng.
Vì vậy, các đội quân của người di cư từ miền Bắc và binh sĩ Hán ở khu vực này trở thành tâm điểm tranh giành của các phe phái. Thật đáng tiếc khi rất nhiều binh sĩ xuất sắc đã không thể ghi công trong các cuộc chiến chinh phục miền Bắc, mà lại thiệt mạng dưới lưỡi dao của chính những người đồng bào trong nội chiến. Khi đọc về những sự kiện này trong lịch sử, người ta không khỏi thở dài.
Chính vì những đội quân người di cư từ miền Bắc đã nhiều lần thể hiện sức mạnh trong các cuộc nội chiến, thậm chí đã nhiều lần chiếm được Kiến Khang Thành, nên khi tình hình chính trị bắt đầu ổn định, những lực lượng này lại trở thành gánh nặng đối với các phe phái. Họ vừa cần được sử dụng để canh giữ biên giới ở khu vực sông Dương Tử và sông Huai, ngăn chặn sự xâm lược từ miền Nam, vừa không muốn họ qua sông để đe dọa khu vực phía Nam.
Thủ tướng đầu tiên của triều đại này, Vua Đạo, đã ban hành lệnh dưới danh nghĩa của Hoàng đế Nguyên Đế Tư Mã, yêu cầu thiết lập các châu, quận tại khu vực Jingkou để định cư cho người di cư từ miền Bắc. Chỉ những gia đình của những người anh hùng đã hy sinh mạng sống trong các cuộc chiến chinh phục miền Bắc mới được phép đến đó sinh sống.
Do đa số người dân ở khu vực Jingkou đều là con cháu của những người di cư đã trải qua nhiều trận chiến, nên việc rèn luyện võ nghệ đã trở thành phong tục phổ biến. Ngay cả những phụ nữ tuổi năm mươi trông có vẻ bình thường, nếu cầm lên cây que cán bột, cũng có thể đánh bại mười hay tám người đàn ông mạnh mẽ một cách dễ dàng. Luật pháp của Đông Tấn còn cho phép mỗi gia đình ở Jingkou giữ lại các loại vũ khí và áo giáp quân sự, đồng thời cho phép những người có uy tín địa phương thực hiện quyền tự trị ở mức độ cao.
Các quan chức cai quản Jingkou qua các thời đại thường sử dụng việc tuyển mộ người dân địa phương vào quân đội thay vì thu thuế. Thậm chí còn có một quy định không thành văn: ngay cả những người phạm tội ở đây, nếu sẵn lòng nhập ngũ phục vụ đất nước, họ cũng có thể được tha bỏ mọi tội danh ngoại trừ tội phản quốc.
Người ta nói rằng quy định này được
Vì vậy, ở khắp các làng xã thuộc khu vực Jingkou đều có đền thờ của Tổng tướng tổ tiên. Mỗi khi có người con trai trong làng ra trận chiến vì đất nước, hoặc trong các cuộc nội chiến để trừng phạt những quan lại tham nhũng và bạo ngược, họ đều đến đền thờ này để thắp hương cầu nguyện, hy vọng được sự bảo hộ của linh hồn ngài Tổng tướng.
Nhận thức được điều này, hầu hết các quan chức cai quản Nam Yanzhou trong triều đại Đông Jin đều phải mang theo hàng nghìn binh sĩ mới dám nhậm chức. Còn kẻ này – Công tử – thì không chỉ không có chức vụ gì mà còn chỉ dùng một cây gậy để tự cho mình quyền lực tại Jingkou. Nếu như Lưu Dụ còn giữ cái tính nóng nảy như ba năm trước, khi ông ta chưa làm trưởng làng, thì chắc chắn đã đánh chết kẻ đó ngay tại chỗ rồi.
Dù sao đi nữa, ở Jingkou này, muốn sống sót được thì chỉ có cách dùng bàn tay sắt. Không chỉ những anh em của quan chức cai quản mà ngay cả các thành viên của hoàng gia, trong mắt Lưu Dụ cũng không thoát khỏi việc bị đánh đập. Bàn tay nhanh hơn trí óc – đó chính là bản chất của người dân Jingkou. Cũng không lạ gì trong suốt hàng trăm năm qua, nơi đây luôn sản sinh ra những chiến binh dũng cảm đáng sợ.
Nghĩ đến điều này, mép miệng Lưu Dụ hiện lên một nụ cười nhẹ. Ông ta vận động cơ thể một chút, rồi thì thầm: “Hôm nay, có lẽ tôi sẽ kết bạn được với một số chiến binh mạnh mẽ từ phía bắc đấy. Một người hùng thường có nhiều người bạn; nếu thực sự muốn góp sức vào công cuộc chinh phục, những người chiến binh này – những người đã vượt qua hàng ngàn dặm đường để đến Jingkou – chắc chắn là những đối tác lý tưởng.”
Tại quận Jingkou, có bến đò Suan Mountain (ngày nay là núi Kimshan).
Trên dòng sông Dương Tử, những lá cờ trắng lấp lánh; trên mặt sông rộng hơn năm dặm, hàng trăm con thuyền đua nhau. Những chiếc tàu chiến màu vàng rồng và những chiếc thuyền nhanh màu mãng đỏ của hải quân Đông Jin tuần tra dọc theo dòng sông. Còn từ bến đò Guazhou ở quận Guangling (ngày nay là Yangzhou) đối diện, những chiếc thuyền đò lớn chở đầy người và ngựa liên tục dừng lại bên bến đò Suan Mountain phía bắc Jingkou, giải xuống những đoàn người từ phía bắc; cảnh tượng xe cộ tấp nập, rất nhộn nhịp và sôi động.
Một vài chiếc thuyền nhỏ từ từ trôi qua bên bờ sông; những ngư dân mặc áo mưa và đội mũ nan đang cố gắng tung những tấm lưới lớn xuống sông để bắt cá chép, hoặc thì ngồi yên bình ở đầu thuyền, câu cá bằng dây dài.
Tiếng hát vui vẻ vang lên khắp nơi: “Buổi sáng che phủ phía đông thành phố, buổi tối che phủ phía tây thành
Chiếc quán nằm ở cuối cùng kia, một bà lão gù lưng đang vung chiếc quạt nan nhỏ, với giọng nói yếu ớt: “Trà thơm, trà ngon tuyệt, chỉ có ở miền Nam sông Dương Tử mới có được thôi! Uống vào sẽ tỉnh táo hơn, giải khát và kích thích tiêu hóa!”
Bên cạnh bà, trên chiếc giường thấp, có khoảng mười mấy cái bát lớn chứa đầy trà thơm, hương thơm ngào ngạt. Phía sau, trong một cái nồi lớn, hai thanh niên khoảng hai mươi tuổi, mặc áo vải gai, đang đổ mồ hôi nhễ nhại dùng cây gậy khuấy đều hỗn hợp bên trong nồi, thỉnh thoảng lại rắc thêm một ít quả thuộc loại thực vật có vị đắng và muối để chế biến trà.
Lưu Dụ đi lang thang giữa các quán này, và những người bán hàng ở các quán bên cạnh đều bắt đầu cười nói: “Ôi, anh Lưu Đại ơi, hôm nay sao anh rảnh rỗi đến bến phà này vậy? Không đi hái củi ở núi à?”
“Sao vậy, anh Lưu Đại lại có tâm trạng thong dong đến đây để kiểm tra xem có ai đáng ngờ không nhỉ?”
Lưu Dụ là hậu duệ của Lưu Giao, Vua Chu – em trai của Hoàng đế Gaozu của nhà Hán. Theo thứ bậc gia tộc, ông là cháu đời thứ hai mươi hai. Nhưng hiện tại, gia đình ông đã sa sút, và ông chỉ là một người đứng đầu làng ở Kinh Khẩu mà thôi.
Lưu Dụ cau mày, rồi nói một cách nghiêm túc: “Không có chuyện gì quan trọng cả. Chỉ là trên trên yêu cầu chúng ta phải theo dõi xem liệu những kẻ từ miền Bắc có âm mưu xâm lược miền Nam, xâm phạm đất nước Đại Tấn của chúng ta hay không. Nhiều người dân Hán ở miền Bắc đang di cư xuống phía Nam, và Kinh Khẩu chúng ta là khu vực dành cho những người di cư này, vì vậy chúng ta cần phải đưa họ đến đây sinh sống và đồng thời kiểm tra xem có kẻ gián điệp nào không. Tiểu Xuân Chi, cậu bé này, sao không ở nhà học sách mà lại đến đây buôn bán thế?”
Cậu bé tên Tiểu Xuân Chi, họ Xu, là một thiếu niên da đen gầy gò, khoảng mười lăm, mười sáu tuổi, đôi mắt sáng ngời. Trước quầy hàng của cậu, có đống mứt hoa quả làm từ đào vàng và mận, còn trong tay cậu thì cầm một chiếc quạt nan, đang đuổi những con ruồi bay quanh những món mứt đó.
Từ Hiền Chi cười nói: “Anh Lưu Đại ơi, những ngày gần đây có rất nhiều khách từ miền Bắc đến bên bờ sông. Mẹ tôi nói rằng, ra ngoài trải nghiệm cuộc sống cũng tốt, và việc bán mứt hoa quả cũng giúp bổ sung thu nhập cho gia đình. Sao anh không thử một ít mứt nhà chúng tôi xem sao?”
Lưu Dụ nhếch mép cười, rồi đi qua quầy hàng của Từ Hiền Chi. Giọng nói của ông vang vào tai Từ Hiền Chi
Chưa có truyện phù hợp.