Chương 450: Khỉ đâm trúng đại bàng
Khi cuộc chiến tiếp diễn đến năm 1970, hệ thống GPS không thể giúp Hoa Kỳ đạt được chiến thắng nhanh chóng; mọi người ở Washington, trong vòng xoáy chính trị, đều biết rằng cuộc chiến này không thể tiếp tục được nữa.
Khi các cuộc tấn công của Hoa Kỳ tại tiền tuyến Việt Nam bị chặn đứng dù có sự hỗ trợ của GPS, các tướng lĩnh trên chiến trường cũng nhận ra rằng cuộc chiến không thể kéo dài được nữa.
Khi những tiếng nói phản đối chiến tranh lại một lần nữa vang lên từ miệng trẻ em, các quan chức Washington hiểu rằng tinh thần phản đối chiến tranh sắp trỗi dậy một lần nữa.
Khi kết quả các cuộc thăm dò dư luận cho thấy tỷ lệ người ủng hộ việc chấm dứt chiến tranh – bất kể điều đó có đáng tự hào hay không – vượt qua số người muốn dùng chiến tranh để dạy bài cho Liên Xô và Nga, các nhà lãnh đạo cấp cao của phe Nhà Trắng cũng nhận ra rằng cuộc chiến đã đến hồi kết thúc.
Việc chấm dứt chiến tranh chỉ là vấn đề thời gian mà thôi.
Nhưng dù là ai, cũng không mong muốn rằng sau khi chiến tranh kết thúc, phe mình ủng hộ sẽ bị đánh bại một cách thảm hại, giống như Quốc gia Hoa đã từng trải qua.
Ngay cả cựu Tổng thống Lâm Đăng Johnson, người đã từng rời nhiệm, cũng không mong điều đó xảy ra.
Bởi vì điều đó sẽ chứng minh rằng cuộc chiến Việt Nam là một sai lầm hoàn toàn, và phe mà họ ủng hộ thực sự là những kẻ vô dụng, không có khả năng chiến đấu.
Hoa Kỳ đã đầu tư rất nhiều tiền bạc, tài nguyên, binh sĩ và danh tiếng vào một nhóm thất bại.
Những hành động của Hoa Kỳ trong cuộc chiến Việt Nam không khác gì Israel; danh tiếng của họ cũng giống nhau, đều rất tồi tệ.
Vì vậy, điểm cơ bản của phe Nhà Trắng là họ cần phải hỗ trợ Nam Việt để giữ vững lãnh thổ.
Ngay cả Kissinger, người luôn tích cực ủng hộ việc phục hồi quan hệ với Quốc gia Hoa, cũng có quan điểm tương tự: Điều kiện để Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam là phải duy trì tình trạng chia cắt giữa Bắc và Nam Việt, giống như tình hình trên bán đảo Cao Lý.
Bây giờ, với sự xuất hiện của loại máy bay không người lái mới, phe Nhà Trắng không còn hy vọng vào việc tấn công trở lại, mà là vào khả năng phòng thủ.
Họ hy vọng rằng với những vũ khí không người lái này, Nam Việt sẽ có thể giữ được quyền kiểm soát bầu trời và từ đó bảo vệ được lãnh thổ của mình.
Nếu các phi công thật sự sợ bị bắn hạ và không dám bay, thì họ cũng sẽ cung cấp cho họ máy bay không người lái; chắc chắn họ sẽ sử dụng chúng mà.
Ở phía sau, máy bay không người lái sẽ thám hiểm đường đi, còn tên lửa
Đúng vậy, vào thời điểm đó, quân đội Mỹ đã có khái niệm về đội bay không người lái và hệ thống truyền thông dữ liệu; họ càng trở nên khao khát thực hiện các chiến dịch “Chiến tranh vũ trụ” một cách gấp rút hơn.
Vì vậy, những gì Nam Việt cần làm là phải giữ vững tình hình cho đến khi Mỹ hoàn thành kế hoạch này.
Yêu cầu này có quá đáng không nhỉ?
Theo lời giáo sư, chuyện này xảy ra vào những năm 70…
Sau khi nghe xong, McNa Mã Lạp ban đầu muốn phản đối một cách vô thức, nghĩ rằng Nam Việt không thể tồi đến mức đó được.
Nhưng khi nghĩ lại rằng người nói ra điều này là giáo sư – một người từng có nhiều kinh nghiệm – anh ta liền thay đổi ý định: “Giáo sư không bao giờ đến tiền tuyến, không hiểu rõ chiến tranh thực sự là như thế nào, cũng chưa từng tiếp xúc với binh sĩ Nam Việt… Được rồi, điều cuối cùng thì tôi không nói nữa.”
Nói cách khác, giáo sư chưa bao giờ sử dụng vũ khí và trang thiết bị của chúng ta.
Vì vậy, đây không phải là một phán đoán mà chỉ là một lời tiên tri mà thôi. Không ai có thể tiên đoán chính xác mọi việc cả, kể cả giáo sư cũng vậy.
Câu trả lời của McNa Mã Lạp thể hiện sự tin tưởng mạnh mẽ vào khả năng của Nam Việt.
Trong lòng Nixon, một tia hy vọng lại nhen nhóm lên: Dù McNa không quá đáng tin cậy, nhưng ít nhất anh ta cũng từng ở tiền tuyến và tham gia chiến tranh Việt Nam trong nhiều năm; lời nói của anh ta chắc hẳn sẽ đáng tin hơn chứ?
Mặc dù giáo sư chưa bao giờ sai lầm trong những dự đoán của mình, nhưng ông ấy cũng không phải là một nhà chỉ huy quân sự hay một vị tướng, thậm chí còn chưa bao giờ đặt chân đến tiền tuyến.
Nixon nói qua điện thoại: “Tôi hiểu rồi, tôi sẽ cố gắng xin thêm ngân sách từ Quốc hội để phát triển công nghệ máy bay không người lái. Trong thời gian này, bạn nhất định phải huấn luyện kỹ lưỡng cho quân đội Nam Việt, đảm bảo rằng họ trở thành một đội quân có sức chiến đấu thực sự!”
Tất nhiên, Nixon không hoàn toàn tin vào lời của McNa Mã Lạp; cuộc tấn công vào đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn trong dịp Tết Nguyên đán vẫn còn in sâu trong ký ức của ông.
Cuộc tấn công này diễn ra vào năm 1968, khi Bắc Việt tiến hành một cuộc tấn công quy mô lớn, trong đó các đội đặc nhiệm của họ đã tấn công vào đại sứ quán Mỹ, dinh tổng thống Nam Việt, đài phát thanh và sân bay. Vào buổi sáng ngày 31 tháng 1, một nhóm 19 người thuộc đội đặc nhiệm đã xâm nhập vào đại sứ quán, gây ra những cuộc giao tranh ác liệt. Những h
Cùng với những bản tin tiếp theo về cuộc tấn công Tết của Bắc Việt, sự yếu kém của quân đội Nam Việt đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng Nixon.
Những kẻ này thực sự không xứng đáng được gọi là con người.
Vì vậy, mục đích chính khiến Nixon đồng ý tiến hành cuộc tấn công vào Campuchia chính là để rèn luyện quân đội Nam Việt.
Nixon tiếp tục nói: “Chúng ta cần những chiến thắng lớn hơn, cần thêm nhiều thế mạnh để đàm phán.”
McNa Mã Lạp gật đầu và nói: “Hiểu rồi. Những chiếc máy bay không người lái mới này hoạt động rất hiệu quả; chúng tôi sẽ sớm tiến hành đợt tấn công quy mô lớn tiếp theo. Hơn một trăm chiếc máy bay không người lái đã được chuẩn bị sẵn sàng.”
Thông tin mới nhất từ Campuchia về khu vực 51 đã đầu tiên đến tay Liên Xô, sau đó Moskva đã chuyển thông tin đó cho Yên Kinh, và từ đó Yên Kinh lại chuyển tiếp cho khu vực 51.
Không cần phải có những chiếc máy bay không người lái thực tế; chỉ cần xem những bức ảnh là đủ. Phía sau những bức ảnh đó là các dấu thời gian được viết bằng tay.
Đầu tiên xuất hiện là những chiếc máy bay không người lái. Sau đó là loại máy bay oanh tạc tầm thấp F105 phổ biến của Mỹ, có biệt danh là “Lé Công”.
“Quả nhiên, như chúng ta đã dự đoán, những chiếc máy bay không người lái của họ giờ đây đã có khả năng hoạt động chính xác hơn nhiều và phát huy được sức mạnh lớn hơn.”
“Chúng ta đã dự đoán điều này mà… Làm sao họ có thể không tận dụng tối đa công nghệ GPS?”
Như đã đề cập trước đó, do ngành công nghiệp điện tử và thương mại nước ngoài phát triển mạnh mẽ, nền kinh tế của Quốc gia Hoa hiện nay tốt hơn rất nhiều so với trước đây. Và điều này có liên quan trực tiếp đến an ninh quốc gia.
Trong thời gian đó, việc Quốc gia Hoa viện trợ vật tư cho Bắc Việt chỉ đơn thuần là hành động viện trợ thông thường mà thôi. Nhưng trong dòng thời gian này, những vật tư mà Quốc gia Hoa viện trợ cho Bắc Việt đều là những sản phẩm có tính chất công nghệ cao; những sản phẩm này có thể được điều chỉnh và cải tiến dựa trên tình hình thực tế trên chiến trường.
Cần phải biết rằng, Chiến tranh Việt Nam có thể được coi là cuộc chiến đầu tiên thực sự mang tính chất đối đầu về công nghệ điện tử. Điều này có ý nghĩa thực tiễn rất lớn.
Cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh sau này đã gây chấn động toàn cầu; nhiều sản phẩm quan trọng đều được phát triển dựa trên kinh nghiệm từ Chiến tranh Việt Nam.
Những nhà khoa học nghiên cứu tại khu vực
Chưa kể đến Viện trưởng Qian nữa. Ngay khi khái niệm GPS mới được đề xuất, ông ấy đã dự đoán được rằng vũ khí chiến trường kết hợp với công nghệ GPS sẽ tạo ra sức mạnh to lớn như thế nào, và cũng đã nghĩ đến việc Quốc gia Hoa cần phải phát triển loại vũ khí nào để đối phó lại. Không phải vào năm 1969, mà là năm 1963, Quốc gia Hoa đã bắt đầu chuẩn bị cho điều này. Khi hệ thống phòng không thể hiện tốt trên tiền tuyến Chiến tranh Việt Nam, các sản phẩm quân sự của Quốc gia Hoa đã được xuất khẩu rộng rãi sang các nước thuộc Liên minh Kinh tế Hợp tác. Tuy nhiên, Quốc gia Hoa chỉ chấp nhận đô la Mỹ, không chấp nhận ruble Nga. Điều này đã được chuẩn bị từ trước. Dù các nước trong cùng phe có lời chê bai bên trong, nhưng họ vẫn buộc phải mua những sản phẩm đó. Điều này cũng giúp họ có thêm nguồn lực để đầu tư vào nghiên cứu và phát triển. Ngay từ năm ngoái, họ đã phát triển ra những thiết bị gây nhiễu dành riêng cho máy bay không người lái. Phía Quốc gia Hoa đặt tên cho chúng là “Đại Hồng Thủy”, có nghĩa là phát ra những tín hiệu nhiễu có công suất cao, che khuất hoàn toàn tần số hoạt động của máy bay không người lái. Các kỹ sư của Quốc gia Hoa sử dụng transistor gallium arsenide để tăng cường công suất phát sóng, khiến những tín hiệu này có thể át chế liên lạc điều khiển của máy bay không người lái từ khoảng cách vài km, khiến chúng lệch hướng hoặc rơi xuống đất. Không chỉ vậy, họ còn phát triển các hệ thống lừa đảo radar, những nguyên mẫu tên lửa chống bức xạ, v.v. Nước Mỹ luôn mong muốn nắm quyền chủ động trên chiến trường. Có một câu nói rất đúng: Những thứ không thể đạt được trên chiến trường, thì cũng đừng hy vọng sẽ có được thông qua đàm phán. Vậy thì tại sao Quốc gia Hoa lại không muốn nắm quyền chủ động trên chiến trường chứ? Càng tham gia chiến tranh một cách tồi tệ, Mỹ càng gặp nhiều khó khăn; trong quá trình đàm phán, Quốc gia Hoa càng có nhiều lợi thế hơn. Do đó, phía Quốc gia Hoa cũng đang chờ đợi những “món quà” lớn dành cho Mỹ. Họ chỉ cần chờ đợi đội hình máy bay không người lái của Mỹ cùng với những chiếc máy bay ném bom xâm nhập vào lãnh thổ họ, để cho không quân Mỹ biết rõ thế nào là sự đáp trả… Cuối mùa xuân năm 1970, khi Mỹ bắt đầu cuộc tấn công mang tên “Mùa Xuân”, với sự tham gia chủ yếu của không quân, họ hy vọng sẽ sử dụng máy bay không người lái để phá hủy một cách triệt để các căn cứ then chốt, tuyến đường vận chuyển vật tư quan trọng và cơ sở phóng tên lửa của Bắc Việt.
Sau đó, các lực lượng trên bộ tiến lên và chiếm giữ những điểm then chốt. Với sự hỗ trợ của Quốc gia Hoa, Bắc Việt đã sử dụng những thiết bị mới này để tiêu diệt hoàn toàn các máy bay không người lái của Mỹ. Những chiếc máy bay liên tục rơi từ bầu trời, giống như đàn chim bị đánh tan; không chỉ các máy bay không người lái mà cả hơn 20 chiếc máy bay ném bom của Mỹ cũng bị phá hủy trong một lần. Sau khi đoạn video này được lan truyền khắp thế giới, nó gây ra những xáo trộn lớn, không kém gì cuộc Tấn công Mùa xuân năm 1968. Bởi vì nếu nói cuộc Tấn công Mùa xuân đã làm cho Nam Việt và Mỹ bất ngờ, thì thực tế Bắc Việt không hề chiếm giữ được bất kỳ mục tiêu quan trọng nào; họ phải chịu những tổn thất nặng nề, với hơn 40.000 người thiệt mạng, trong khi Nam Việt và Mỹ chỉ mất khoảng 4.000 đến 9.000 người. Cuộc Tấn công Mùa xuân chỉ mang lại thành công về mặt chính trị, làm bộc lộ rằng đánh giá lạc quan của chính phủ Mỹ về diễn biến của cuộc chiến là sai lầm, và điều này khiến dư luận nội bộ Mỹ bắt đầu chuyển hướng sang phản đối chiến tranh. Các bài báo trên truyền thông cũng góp phần làm lung lay niềm tin của công chúng. Lần này, việc mất quyền kiểm soát bầu trời có nghĩa là quyền kiểm soát bầu trời mà Mỹ luôn tự hào đã bắt đầu lung lay. Điều khiến người dân Đế quốc càng không thể chấp nhận được là, tại Đông Dương, trong rừng rậm An Nam, trước đây các phóng viên vẫn đùa rằng chúng ta đang “đánh nhau với khỉ”, rằng những con khỉ có thể nhảy xuống từ cây vào bất cứ lúc nào… Nhưng bây giờ, họ phải chấp nhận rằng những con khỉ đó có thể làm cho các máy bay chiến đấu của chúng ta rơi xuống từ trời? Người dân không hiểu gì về máy bay không người lái; họ nghĩ rằng đó đều là những chiếc máy bay có phi công điều khiển. Cảnh hình hơn 100 chiếc máy bay rơi xuống từ trời một lúc thật sự rất ấn tượng. Dù có những câu chuyện đồn đại về những con khỉ dùng gậy để đâm hạ máy bay, nhưng dù khỉ có mạnh đến đâu thì cũng không thể làm cho hơn 100 chiếc máy bay rơi xuống cùng lúc được. Đoạn video này đã trở thành ác mộng trong lòng người dân Mỹ, và hoàn toàn làm bùng cháy ngọn lửa phản đối chiến tranh ở nước họ. Những bức thư từ gia đình các binh sĩ thuộc lực lượng không quân ùa về phía tiền tuyến: “John, anh còn sống không? Trong số những chiếc máy bay đó có anh không?” Các cuộc biểu tình phản đối chiến tranh lan rộng từ các trường học ra đường phố, với những khẩu hiệu như: “Khỉ đã đánh bại đại bàng! Nixon, hãy đưa con em chúng ta trở về nhà!” Walter Cronkite, người được mệnh danh là “
Những đoạn video gần đây đã tạo nên một cú sốc lớn đối với tất cả những người yêu nước ở nước Mỹ. Họ không thể tin được, họ không chấp nhận được sự thật này, và họ hoàn toàn phát điên.
Chương trình bắt đầu bằng đoạn video gây ám ảnh đó: những đội bay không người lái lượn vòng trên bầu trời xanh, rồi lần lượt rơi xuống đất.
Walter Cronkite điều chỉnh lại kính rồi bắt đầu báo cáo trước ống kính máy quay; đoạn phát biểu này sau này được các nhà sử học coi là “Khoảnh khắc Cronkite lần thứ hai”, góp phần thổi bùng ngọn lửa phản chiến.
“Thưa quý vị, tối nay, chúng ta buộc phải đối mặt với một sự thật tàn nhẫn. Những hình ảnh mới nhất từ Việt Nam cho thấy lực lượng không quân của chúng ta đã phải chịu đựng những tổn thất chưa từng có. Trong cuộc tấn công mang tên “Mùa xuân”, những đội bay không người lái tiên tiến và những chiếc máy bay ném bom F-105 của chúng ta, vốn dĩ nên có thể tiêu diệt các căn cứ của Bắc Việt một cách chính xác như dao mổ, nhưng lại mất kiểm soát hoàn toàn trên bầu trời đối phương. Hơn 100 chiếc máy bay không người lái đã bị tiêu diệt, hơn 20 chiếc máy bay ném bom bị phá hủy thành từng mảnh vụn. Điều này không phải là tai nạn, cũng không phải do hỏng hóc kỹ thuật; mà là do đối phương, theo thông tin tình báo, với sự hỗ trợ của công nghệ gây nhiễu điện tử tiên tiến Quốc gia Hoa, đã tạo ra những thách thức nghiêm trọng đối với quyền kiểm soát bầu trời của chúng ta.
Trước đây, chúng ta đã từng kể về những câu chuyện thời kỳ thuộc địa: trong rừng rậm Đông Dương, những người du kích mà người An Nam gọi là “khỉ” đã đánh bại người Pháp. Bây giờ, những phi công của chúng ta, những người con trai và anh em của chúng ta, đang đối mặt với một kẻ thù còn đáng sợ hơn nhiều. Những “con khỉ” ấy không còn chỉ nhảy từ trên cây xuống nữa; họ sở hữu những vũ khí công nghệ cao, đủ mạnh để che giấu tín hiệu của chúng ta, đủ tinh vi để lừa dối đôi mắt chúng ta bằng radar. Những chiếc máy bay rơi trong đoạn video đó không phải là những con số trừu tượng, mà là những chiếc quan tài bằng thép chứa đựng sinh mạng của những người trẻ tuổi ở nước Mỹ.
Các thư từ của người dân đổ về như thác lũ; họ hỏi: Liệu lực lượng không quân của chúng ta còn có thể bảo vệ chúng ta nữa không? Quyền kiểm soát bầu trời – thứ mà chúng ta luôn tự hào – đang bắt đầu lung lay.
Là một nhà báo, tôi đã từng đưa tin về Thế chiến II, về cuộc chiến Cao Lý… và bây giờ là về Việt Nam. Cuộc chiến này lẽ ra phải kết thúc nhanh chóng, nhưng lại trở thành một vũng
Chưa có truyện phù hợp.