lore

Chương 449: Máy bay không người lái năm 1970

16,647 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Kissinger đã thẳng thắn từ chối.

Ngay cả việc đi hỏi ý kiến của giáo sư như một cách qua loa cũng không muốn làm.

Ông sợ rằng nếu mình làm vậy, có thể xảy ra những biến số và khi trở về Washington, mình sẽ mất đi sự tin tưởng của Nixon.

Quyền lực không hoàn toàn đến từ vị trí; nhiều khi, quyền lực đến từ sức mạnh thực sự của bạn.

Quyền lực của Lâm Nhân cũng vậy – dù ai lên làm tổng thống, họ cũng phải để ông ấy tiếp tục giữ chức vụ Giám đốc NASA.

Vào giai đoạn cuối của nhiệm kỳ, Johnson thậm chí còn rất ghét bỏ Lâm Nhân; mỗi khi người Mỹ nhắc đến lĩnh vực hàng không vũ trụ hay chương trình đặt chân lên Mặt Trăng, họ chỉ biết đến Lâm Nhân mà không biết đến tổng thống.

Chẳng lẽ ông ấy không muốn thay đổi người đứng đầu NASA sao? Chẳng lẽ ông ấy không muốn ghi công chiến thắng trong cuộc chạy đua vào không gian cho mình sao?

Tất nhiên là muốn, nhưng vấn đề là không thể làm được.

Còn quyền lực của Kissinger hoàn toàn đến từ sự đánh giá cao của Nixon.

Sau khi trở thành Ngoại trưởng vào năm 1973, tình hình của ông mới tốt đẹp hơn một chút; nhưng hiện tại, ông chỉ đóng vai trò là cố vấn mà thôi. Thật ra, chỉ cần một sắc lệnh hành pháp của tổng thống là có thể sa thải ông ta.

Trong dòng thời gian gốc, Kissinger đã bí mật đến Yên Kinh nhờ sự trung gian của Pakistan. Họ đã sắp xếp cho ông bay bí mật từ Islamabad đến Yên Kinh.

Ngoài ra, các kênh liên lạc dự phòng còn bao gồm các nhà ngoại giao Romania và Pháp như Jean Santeny.

Khi ông có chuyến thăm công khai đến Pakistan, ông giả vờ bị đau dạ dày và cần nghỉ ngơi vài ngày; thực tế, vào lúc 3:30 sáng ngày 9 tháng 7, ông đã lén lút đi đến sân bay bằng chiếc xe Volkswagen Beetle do con trai của một nhà ngoại giao Pakistan lái.

Ông đội một chiếc mũ tròn đen và kính râm để che giấu danh tính, sau đó bay trên chiếc Boeing 707 của hãng hàng không Pakistan, vượt qua dãy núi Mã Lạp và Yarlung Zangbo, và chỉ mất 4,5 giờ để đến sân bay Nam Viên ở Yên Kinh.

Toàn bộ quá trình này chỉ được thông báo cho một số ít người, bao gồm Đại sứ Pakistan Joseph Farland; tuy nhiên, ông đã được yêu cầu nghiêm túc không được thông báo cho Rogers, tức là Ngoại trưởng lúc bấy giờ.

Mục đích là để tránh gây ra phản ứng tiêu cực từ phe bảo thủ trong nước Mỹ.

Nói chung, Kissinger đã rất thận trọng trong suốt quá trình này.

Đồng thời, sau khi xem lại các tài liệu lịch sử, Lâm Nhân cũng nhận được những ý tưởng mới về chuyến thăm bí mật của Kissinger đến Trung Quốc.

Vẻ mặt của đại diện Quốc gia Hoa dường như đầy thất vọng; sự thất vọng ấy hiển hiện rõ trên khuôn mặt họ. Mặc dù hai bên không cùng ngôn ngữ, nhưng Kissinger vẫn có thể cảm nhận được điều đó một cách rõ ràng.

  Kissinger hoàn toàn có thể đồng cảm với tâm trạng của đại diện Quốc gia Hoa vào lúc này. Bởi trong suốt hơn một nghìn năm qua, người Do Thái ở Toàn thế giới luôn không thể phục vụ cho đất nước của mình.

  “Chúng tôi hiểu những lo ngại của quý vị, hiểu rõ rủi ro mà ông Lin phải đối mặt khi trở về Quốc gia Hoa. Vậy thì Paris… Paris chắc chắn là một lựa chọn khác được chứ?” Đại diện đàm phán của Quốc gia Hoa cảm thấy rất bất ngờ; bởi vì dù giáo sư là người gốc Hoa, nhưng họ lại không cho phép ông ấy trở về Quốc gia Hoa.

  Việc phục vụ cho nước Mỹ đã đành, nhưng việc phải đối mặt với những rào cản như vậy thật là đáng buồn.

  Đây chính là biểu hiện của sự yếu đuối và nghèo khó của các quốc gia hiện đại.

  “Năm nay, Hội nghị Toán học Quốc tế Nhà toán học sẽ được tổ chức tại Paris – bốn năm trước, hội nghị này diễn ra ở Moscow. Vì vậy, giáo sư đã không tham dự. Năm nay, tại Paris của nước Pháp – một đồng minh quan trọng của quý vị ở châu Âu, một quốc gia thuộc phe tự do – chúng tôi hy vọng giáo sư sẽ có thể tham dự hội nghị này.”

  Trước tiên, hãy đưa ra một yêu cầu mà đối phương khó có thể chấp nhận; sau đó mới đưa ra một yêu cầu tương đối dễ dàng để thuyết phục họ.

  Tại Hội nghị Nhà toán học được tổ chức ở Moscow vào năm 1966, giáo sư đã được trao Giải Fields dựa trên dạng “yếu” của Giả thuyết Goldbach. Ban đầu, phía Moscow muốn mời Lâm Nhân đến để trao giải cho thế hệ trẻ của họ.

  Đây cũng chính là sự kế thừa của người Hoa trong lĩnh vực Toán học Quốc tế: cả năm 1962 và 1966, người Hoa đều giành được Giải Fields.

  Đối với Moscow mà nói, việc thiếu sự tham gia của Lâm Nhân tại một sự kiện toán học quốc tế lớn như vậy thực sự là một điều đáng tiếc.

Nhưng phía Nhà Trắng đã không do dự mà từ chối, lý do cũng rất hợp lý, bởi vì vào thời điểm đó là giai đoạn then chốt của sứ mệnh Apollo lên Mặt Trăng, và giáo sư đang quá bận rộn để có thể tham gia.

Mọi người đều biết rằng lý do thực sự là lòng tin giữa Moscow và Washington rất mong manh; đến mức họ không yên tâm để giáo sư đến Moscow.

Phía Yên Kinh rất hiểu điều này, vì vậy họ đã chọn Pháp.

Hội nghị Nhà toán học năm nay được tổ chức tại Nice, Pháp. Nếu Moscow lo lắng, thì ít ra Nice chắc chắn không lo lắng chứ?

Tây Âu hoàn toàn thuộc vùng ảnh hưởng của AmeLệca. Trong khu vực này, ảnh hưởng của Moscow chỉ giới hạn ở “dưới lòng đất”; dù các lực lượng đó mạnh mẽ đến đâu, họ cũng không thể vươn lên được “mặt đất”.

Kissinger nghĩ rằng, nếu là Pháp thì thật sự đáng lo ngại… Trong số các quốc gia Châu Âu, chỉ có Pháp là không chịu tuân theo mệnh lệnh của AmeLệca một cách ngoan ngoãn.

Đúng lúc Kissinger định từ chối, đại diện phía Quốc gia Hoa ngồi đối diện ông ta nói với giọng nghiêm túc: “Đây là yêu cầu cuối cùng và duy nhất của chúng tôi; chúng tôi muốn trò chuyện với giáo sư, điều này sẽ rất hữu ích cho việc cải thiện quan hệ giữa hai nước chúng ta.”

Kissinger đành phải đổi lời: “Được thôi, tôi sẽ báo cáo với Tổng thống.”

Ông không dám cũng không thể đồng ý ngay lập tức.

Quay lại chiến trường Việt Nam, trong suy nghĩ của công chúng, máy bay không người lái mới bắt đầu phát huy tác dụng rõ rệt trong cuộc chiến tranh với Nga vào năm 2022.

Thực tế, ngay từ thời gian diễn ra Chiến tranh Việt Nam, máy bay không người lái đã được sử dụng trên quy mô lớn.

Chỉ là so với các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái và việc chia sẻ thông tin tình báo trong các cuộc chiến hiện đại, thì vào thời điểm đó, máy bay không người lái còn thiếu GPS, hệ thống truyền dữ liệu thời gian thực và khả năng chia sẻ thông tin tình báo.

Trong thời gian và không gian ban đầu, AmeLệca đã triển khai hơn 3000 chiếc máy bay không người lái; theo dữ liệu của AmeLệca, mỗi chiếc máy bay này sẽ bị bắn hạ hoặc bị hỏng sau khi thực hiện 4 nhiệm vụ.

Tuy nhiên, có rất ít máy bay không người lái có thể thực hiện được tới 68 nhiệm vụ.

Trong Chiến tranh Việt Nam, các biện pháp đối phó điện tử bắt đầu xuất hiện, và máy bay không người lái cũng không ngoại lệ.

Không chỉ số lượng phi vụ thực hiện tăng lên, mà các loại máy bay không người lái cũng liên tục được nâng cấp.

AmeLệca đặt tên cho chúng là “Bọ chạy nhanh”.

Các mẫu mã của chúng bao gồm Ryan 147G, và tiếp tục được phát triển thành các phiên bản G, J, E, F, N

(Các loại máy bay không người lái thời kỳ đầu)

  (Ryan 147H được sử dụng để trinh sát ở tầm cao vào năm 1967)

  Nhưng giờ đây, sau khi Mỹ triển khai hệ thống vệ tinh GPS, các loại máy bay không người lái cũng đã được nâng cấp đáng kể.

  Với sự hỗ trợ của GPS, hiệu quả hoạt động của máy bay không người lái đã được cải thiện rõ rệt.

  Nói một cách đơn giản, trước đây, máy bay không người lái phải tuân theo những lộ trình cố định; nếu bạn xác định rõ lộ trình, độ cao và tốc độ bay, thì chỉ cần bay vài lần, phía Bắc Việt Nam có thể tính toán ra quỹ đạo bay của bạn và tiêu diệt chúng.

  Vì vậy, trung bình mỗi chiếc máy bay không người lái chỉ sống sót được sau 4 nhiệm vụ: ba lần thu thập thông tin, và lần thứ tư thì bị tiêu diệt ngay lập tức.

  Nhưng với GPS, ngay cả việc điều chỉnh vị trí theo thời gian thực cũng giúp làm cho quỹ đạo bay trở nên phức tạp hơn, từ đó cho phép chúng tự định hướng một cách hiệu quả hơn, làm giảm đáng kể tỷ lệ hỏng hóc.

  Một yếu tố quan trọng khác là độ chính xác – độ chính xác trong việc thu thập thông tin tình báo.

  Trước đây, khi máy bay không người lái mang theo máy ảnh để chụp ảnh, chúng không có dữ liệu về vị trí; vì vậy, ngay cả khi chụp được những thông tin có giá trị trong rừng rậm An Nam, bạn cũng không biết chúng nằm ở đâu cụ thể. Dù đó là căn cứ của quân đội hay đội du kích, bạn chỉ có thể biết được hướng chung và khoảng cách tổng thể mà thôi. Điều này khiến cho kết quả phân tích sau này cũng không chính xác lắm.

  Nhưng với GPS, mọi thứ đã thay đổi: hệ thống này có thể cung cấp tọa độ địa lý chính xác cho từng bức ảnh, giúp tích hợp dữ liệu một cách thời gian thực. Vì vậy, ngay sau khi chụp được hình ảnh, tên lửa đã được phóng ngay lập tức. Thậm chí, chính máy bay không người lái cũng có thể đóng vai trò như một “bộ chỉ thị mục tiêu”, cung cấp tọa độ GPS để xác định vị trí mục tiêu một cách chính xác.

  Vì vậy, vào năm 1969, hệ thống GPS của Mỹ được triển khai; đến năm 1970, hệ thống này đã được hoàn thiện hoàn toàn, với 34 vệ tinh đang hoạt động trên bầu trời. Các thế hệ máy bay không người lái mới, được thiết kế dựa trên công nghệ GPS, đã được đưa ra mặt trận Chiến tranh Việt Nam. Tuy nhiên, chúng không được sử dụng ở đó, mà được dùng ở Campuchia.

  Sau khi nhận được sự chấp thuận của Nixon, Mỹ và Nam Việt đã xâm lược Campuchia vào năm 1970. Lý do là vì Bắc Việt đã thiết lập nhiều căn cứ quân sự ở miền đông Campuchia, bao gồm v

Campuchia và Annam không khác nhau gì; khí hậu cũng giống nhau, điều kiện địa lý cũng tương tự.

  Không khí nơi đây tràn ngập mùi đất ẩm ướt – thứ mà các binh sĩ Mỹ từng ghét cay ghét đắng. Nơi các sĩ quan nghỉ ngơi bên bờ biển Sài Gòn, mùi của nước biển tạo nên sự tương phản rõ rệt so với mùi đất này.

  Chính vì vậy, khi ngửi thấy mùi đất, các binh sĩ liền nghĩ đến cái chết, đến những con người cây có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào, đến những viên đạn có thể bay đến bất cứ lúc nào.

  Hai tháng sau sự kiện Lon Nol, cuộc xâm lược của Mỹ đã được triển khai một cách mãnh liệt.

  Khác với trong thời gian đó, khi chỉ có quân đội bộ binh tiến công trực tiếp.

  Lần này, là thế hệ mới của máy bay không người lái, mang tên “Đại bàng Trời”, được sử dụng trong chiến đấu thực tế tại Campuchia.

  Tại sao lại chọn Campuchia để thử nghiệm, thay vì tuyến đầu của cuộc chiến Việt Nam?

  Bởi vì Washington lo ngại rằng nếu các mảnh vỡ của những chiếc máy bay không người lái này bị Quốc gia Hoa thu giữ, họ sẽ nhanh chóng phát triển ra những vũ khí đối phó, làm giảm sức mạnh của chúng.

  Họ muốn thu thập được dữ liệu thực tế từ Campuchia, sau đó điều chỉnh quy trình sản xuất hàng loạt, rồi mới đưa chúng vào sử dụng trực tiếp tại tuyến đầu Việt Nam, nhằm đạt được lợi thế chiến lược.

  Hiện tại, sức ảnh hưởng của Quốc gia Hoa tại Campuchia còn rất yếu; Washington tin rằng ngay cả khi những chiếc máy bay không người lái này rơi xuống đất, quân đội bộ binh của họ vẫn có thể thu hồi chúng.

  Nhóm chuyên gia quân sự và kỹ sư của Mỹ đã khởi hành từ căn cứ không quân Sài Gòn, đi trên một chiếc phi cơ vận tải C-130, xuyên qua các đám mây ở biên giới Annam.

  Người dẫn đầu đoàn là Tiến sĩ Allen Harris, một nhà vật lý học hơn năm mươi tuổi, đồng thời cũng là một trong những kỹ sư cốt lõi của nhóm nghiên cứu GPS.

  Công ty Ryan Air, nhà sản xuất những chiếc máy bay không người lái Ryan mà chúng ta đã đề cập trước đó, đã bị công ty Treadway Technologies mua lại cách đây hai năm.

  “Các bạn ơi,” ông nói với đội ngũ trong khoang máy bay, “chúng ta không đang chiến đấu; chúng ta đang tái định hình chiến tranh. Người đàn ông ấy đã giúp chúng ta tìm thấy ‘con mắt của Chúa’!”

  Là một kỹ sư từng làm việc cùng Lâm Nhân, Allen Harris thực sự ngưỡng mộ người đàn ông này.

  Ông đã chứng kiến trực tiếp cách Lâm Nhân biến những ý tưởng ban đầu thành hiện thực.

  Các nhà nghiên cứu thuộc NASA tham gia dự án GPS đều đ

Bên cạnh anh ta là Đại tá Không quân GIA MINH THÁI · Reynolds – một kỹ sư giàu kinh nghiệm thực chiến, đến từ Văn phòng Điều tra Quốc gia. Nhiệm vụ của ông là biến những ý tưởng trong phòng thí nghiệm thành vũ khí trên chiến trường.

Trong nhóm còn có vài người trẻ tuổi Nhà khoa học, họ cầm theo sổ ghi chép và thiết bị kiểm tra tín hiệu, liên tục kiểm tra liên kết dữ liệu của máy bay không người lái trong suốt quá trình bay.

Những chiếc “Đại bàng Trời” này được cải tiến dựa trên mô hình Ryan 147, tích hợp bộ thu GPS, cho phép chúng tự động điều hướng, điều chỉnh lộ trình theo thời gian thực; ngay cả khi đang bay qua sương mù rừng rậm, chúng vẫn có thể xác định chính xác vị trí các kho hàng tiếp tế của Bắc Việt.

Chiếc phi cơ vận tải hạ cánh xuống một căn cứ tiền phương tạm thời ở biên giới Campuchia. Trong làn bụi mù, Tướng William Abernath đã chờ đợi từ lâu.

Vào lúc bình minh ngày hôm sau, cuộc thử nghiệm bắt đầu.

Trong lều chỉ huy ở rìa rừng, màn hình hiển thị thông tin phản hồi thời gian thực từ vệ tinh.

Abernath đứng ở giữa lều, hai tay khoanh trước ngực.

Bên cạnh ông là Harris cùng nhóm của mình.

Chiếc “Đại bàng Trời” đầu tiên lao ra đường băng, cất cánh một cách yên lặng, không cần điều khiển từ xa bằng radio; chỉ có dữ liệu GPS dẫn đường cho nó bay thẳng đến điểm tiếp tế của Bắc Việt, nằm cách đó 20 km về phía đông Campuchia, thuộc khu vực Mỏ Chim.

Những người trẻ tuổi Nhà khoa học chăm chú nhìn vào màn hình: Chiếc máy bay không người lái bay qua các đám mây, tránh qua các căn cứ phòng không đã được biết trước; thông tin được truyền về một cách đồng bộ, chỉ có tọa độ; hình ảnh kèm theo thông tin địa lý thì có chút trễ, nhưng vẫn đủ nhanh để theo dõi.

Trên màn hình, những chiếc xe tải và đống đạn của Bắc Việt hiện rõ một cách rõ nét; ở góc dưới bên phải, những dấu hiệu giống như watermark chính là tọa độ địa lý của khu vực đó.

Xét về độ chính xác của hình ảnh vào thời điểm đó, thì quả thật chúng đã được hiển thị một cách rất rõ ràng.

“Kích hoạt mục tiêu,” Reynolds ra lệnh khẽ. Sau khi chiếc máy bay không người lái cất cánh, những chiếc máy bay ném bom tầm cao cũng bay lên và thả những quả bom có hệ thống dẫn đường chính xác xuống địa điểm đã được xác định trước. Dữ liệu do GPS cung cấp, kết hợp với thông tin từ tên lửa, đã giúp điều chỉnh sai số do gió và địa hình gây ra.

Một dopo một, các kho hàng của Bắc Việt ở Campuchia bị biến thành tro bụi, các tuyến đường tiếp tế bị cắt đứt.

Phía Nam Việt Nam lập tức triển khai cuộc tấn công trên mặt đất.

Sau khi nhận được báo cáo từ tiền tuyến, McNa __TERM

Xin nói thêm một chút ở đây. Trong không gian thời gian ban đầu, MacNa Mã Lạp thực sự rất điên cuồng – ông ta cực kỳ quyết tâm sử dụng dữ liệu để chỉ huy các cuộc chiến tranh.

  Điên cuồng đến mức sao? Đến mức trong giai đoạn từ năm 1968 đến 1973, Lầu Năm Góc do ông ta lãnh đạo đã tiêu tốn khoảng 1 tỷ đô la Mỹ mỗi năm cho một chương trình mới được triển khai bằng công nghệ máy tính nhằm chấm dứt Chiến tranh Việt Nam.

  Chương trình này có rất nhiều tên gọi khác nhau, bao gồm Practice Nine, Muscle Shoals, Illinois City và Dye Marker… Nhưng cái tên phổ biến nhất vẫn là “Chiến dịch Ngôi nhà Băng Trắng”.

  Về cơ bản, chiến dịch này bao gồm việc triển khai hàng tens of thousands của các thiết bị cảm biến địa chấn, âm thanh và từ tính dọc theo Con đường Hồ Chí Minh. Những thiết bị này sẽ được phân tích thông tin bằng máy tính để theo dõi chuyển động của đối phương một cách thời gian thực, từ đó hướng dẫn các cuộc tấn công trên không nhằm cắt đứt hoàn toàn nguồn tiếp viện cho Bắc Việt.

  (Vào năm 1967, trong trận chiến ở Khe Sanh, các binh sĩ Mỹ đang triển khai các thiết bị cảm biến trọng lực; chúng trông giống hệt những tên lửa.)

  Đó cũng chính là lý do tại sao Bộ Quốc phòng do MacNa Mã Lạp lãnh đạo lại sẵn lòng chi tiêu mạnh tay cho các dự án của Lâm Nhân và NASA, chẳng hạn như chương trình GPS hay “Chiến tranh Giữa các Vì sao”. Bởi vì những dự án đó tiêu tốn nhiều tiền hơn nhưng hiệu quả kém hơn nhiều, nhưng MacNa Mã Lạp vẫn sẵn lòng ủng hộ chúng.

  Bây giờ, khi có những dự án do các giáo sư lãnh đạo và mang tính thực tiễn cao hơn, MacNa Mã Lạp càng không do dự khi đưa ra quyết định.

  “Tổng thống Nixon ơi, chúng tôi đã kiểm tra thành công công nghệ mới này tại tiền tuyến! Nó đã gây ra những tác động mạnh mẽ đối với các tuyến đường tiếp viện của Bắc Việt. Dưới sự hỗ trợ của những chiếc drone mới này, tinh thần chiến đấu của quân đội Nam Việt đã tăng lên một cách chưa từng có. Chúng tôi có thể cam đoan rằng, ngay cả khi chúng ta rút toàn bộ quân đội khỏi An Nam và chỉ cung cấp vật tư hậu cần, quân đội Nam Việt vẫn có thể độc lập tiêu diệt các lực lượng xâm nhập của đối phương!”

  MacNa Mã Lạp nói một cách tự tin qua điện thoại, giọng nói đầy tự hào.

  Theo một nghĩa nào đó, việc “đánh ra ngoài” chính là hành động nhằm mục đích hòa bình.

  Lúc bấy giờ, rất ít người có thể tưởng tượng được rằng thất bại thảm hại của Mỹ ở

1/1 0%