Chương 71: Nhà cũ ở cuối đường thờ
Sáng hôm sau, ông Trần trở về từ bờ tây, khuôn mặt còn tồi tệ hơn đêm qua.
Ông ngồi xuống bên bếp lửa, uống một ngụm nước nóng.
“Năm cái bình vẫn còn đó, lớp sáp niêm phong chưa vỡ.”
Cô Bảy đã canh gác suốt đêm, đến sáng mới quay về thay đồ.”
Chú Quách có vẻ mặt u ám, lập tức nói: “Tôi sẽ đi thay cô ấy.”
Ông Trần liếc nhìn chú:
“Hôm nay cậu không cần canh giữ hàng hóa.”
“Vậy tôi phải làm gì?”
“Dẫn đường.”
Ông nhìn về phía tôi:
“Đến căn phòng chứa hàng hóa ở cuối đền.”
Cuốn sổ danh sách của tôi dừng lại.
“Hôm nay đi à?”
“Không đi thì đợi đến khi Qin Shun chuyển hết hàng đi sao?”
Ông Trần đặt chiếc bát xuống.
“Lô hàng đêm qua đã bị tịch thu, hắn ta đã tiết lộ thông tin về căn phòng chứa hàng đó rồi. Không thể giấu được nữa. Nếu không đi hôm nay, ngày mai trong đó chỉ còn lại chuột thôi.”
Phần lớn các cuốn sổ trong lều đã được sao chép xong. Sổ danh sách người sống vẫn còn trên bàn, sổ gia đình thì ở nhà mẹ tôi, còn sổ hàng hóa thì nằm cạnh cuốn sổ danh sách của Waterwei.
Nhưng trang viết về giếng sau đền cũ vẫn còn đó.
Ba ngày sau khi bắt đầu việc sao chép sổ, giờ đây đã thiếu mất một ngày rồi.
Tôi đóng cuốn sổ lại.
“Tôi cũng đi.”
Mẹ tôi lập tức quay đầu nhìn.
Ông Trần không mắng tôi, chỉ nhìn vào bàn tay phải của tôi.
Sau khi được băng bó lại vào hôm qua, máu không còn chảy ra nữa, nhưng lòng bàn tay vẫn sưng tấy nặng.
Tôi biết mình không thích hợp để chạy lung tung.
Nhưng trong căn phòng chứa hàng đó, có lẽ ẩn chứa những bí mật về cách Waterwei thuê người, vận chuyển người, và làm thế nào để biến những người sống thành những con số không thể trở lại.
Tôi phải tự mình kiểm tra.
“Tôi sẽ không chạm vào các thùng hàng, cũng không lật những vật nặng, chỉ đọc sổ sách thôi.”
Ông Trần im lặng một lúc.
“Có thể đi. Chú Ba Quách sẽ dẫn đường, A Shun đi theo, cô Bảy sẽ kiểm tra các tờ giấy ghi chép và lớp sáp niêm phong. Cậu chỉ cần đọc sổ thôi.”
Ông nhấn mạnh từ “chỉ đọc sổ”.
Tôi gật đầu.
“Biết rồi.”
Ông lại nhìn về phía mẹ tôi.
“Mẹ cậu sẽ canh giữ sổ gia đình.”
Mẹ tôi gật đầu.
Khi chúng tôi rời khỏi lều, trời vẫn còn u ám.
Mưa đã tạnh hai ngày rồi, nhưng bùn đất trên phố vẫn chưa khô. Giờ đây, đã có người trong thị trấn biết về việc hàng hóa bị tịch thu ở bờ tây, và cũng biết rằng trên những cái bình đó có ghi chữ “Người sống”.
Thông tin lan truyền nhanh hơn cả nước.
Căn phòng chứa hàng đó nằm ở con phố sau đ
Sau khi đi qua ngôi miếu nhỏ, chú Guo chỉ vào một hàng nhà cũ kỹ phía sau miếu:
“Chính là nơi đó.”
Nơi mà trước đây Qin Erhe từng để hàng hóa.
Từ xa nhìn lại, tôi thấy những căn nhà ấy không giống như kho hàng, mà giống như những cái miệng đã bị khép lại từ lâu.
Nửa bức tường đã đổ sập, cánh cửa vẫn treo chiếc ổ khóa sắt gỉ sét.
Nhưng ổ khóa đã bị phá khóa rồi.
Vết gãy còn rất mới.
Mặt chú Guo biến sắc:
“Có người đã đến đây.”
A Shun lập tức nói: “A Shui nói là vào nửa đêm thì không ai vào đó cả.”
Bà Chín Quý quỳ xuống và sờ vào miệng ổ khóa:
“Không phải là tối qua mới bị phá khóa, có lẽ là ngay sau khi nước rút.”
Người ta đã vào bên trong, sau đó cố ý đóng cửa lại.
Tôi hỏi: “Bên trong có tiếng nước không?”
Mọi người đều im lặng.
Không có tiếng nước nào cả.
Chỉ có tiếng gió thổi qua những bức tường đổ nát, làm cho gỗ kêu rít.
Càng yên tĩnh, tôi càng cảm thấy bất an.
Chú Guo dùng cây gậy đẩy cửa mở ra.
Mùi mốc và mùi dầu cũ bay ra, xen lẫn với một mùi mực lạnh nhẹ.
Tôi dừng bước lại.
Tối qua, dưới cầu, sau khi con thuyền ở bờ Tây đi đi, cũng có mùi này.
Tôi lấy sổ ghi hàng hóa và viết xuống trang trống:
“Phòng hàng cũ ở cuối miếu.”
“Ổ khóa bị khóa chặt.”
“Cửa được đóng lại.”
“Có mùi mực lạnh.”
Chú Guo không nhịn được mà nói: “Chưa vào bên trong đã viết rồi à?”
“Từ bây giờ trở đi, thấy cái gì cũng phải ghi lại. Để tránh người ta nói rằng chúng ta lục soát bừa bãi.”
Bà Chín Quý dùng sáp trắng lau ngưỡng cửa, sau đó lắc chiếc giấy khô. Góc giấy hơi ẩm, nhưng không bị đen lại.
“Có thể vào được.”
Bên trong phòng hàng rất tối.
Nửa bức tường đổ sập, ánh sáng chiếu lên những túi rơm đã mục nát.
Bên trong, gần tường có vài cái thùng gỗ, ở góc có vài cái bình gốm đen nhỏ đổ ngược. Miệng bình trống rỗng, dấu in ở đáy bình đã bị mài mòn, chỉ còn lại hình dáng của nửa chiếc đèn lật úp.
Mặt bà Chín Quý trở nên tái nhợt hơn một chút.
“Đó là những bình dầu đèn nhỏ màu xanh.”
Tôi không chạm vào chúng, chỉ ghi lại:
“Ba cái bình gốm đen nhỏ.”
“Bình trống rỗng.”
“Dấu in ở đáy bị mài mòn.”
Bên trong thùng gỗ chỉ có những sợi dây rơm mục nát, những nút bịt bình dầu trống rỗng, và vài cuốn sổ sách đã mục nát.
Chú Guo vừa định chạm vào, bà Chín Quý lập tức ngăn lại:
“Đừng chạm vào.”
“Đã mục như thế này rồi mà vẫn có thể nhìn thấy được sao?”
“Dù không thể nhìn thấy, nhưng chúng ta vẫn có thể biết ai muốn che giấu điều đó.”
Tôi nhìn nh
“Rất trơn trượt… Họ nhận mọi thứ hàng hóa, nhưng không bao giờ thừa nhận bất kỳ khoản nào. Nếu thực sự muốn giấu gì đó, họ sẽ không để nó ở nơi dễ dàng lấy được.”
Bỗng nhiên, Chị Bảy hỏi: “Phòng chứa hàng có hầm ngầm không?”
Chú Quách cau mày: “Tôi chưa từng nghe nói về điều đó.”
A Thùy chỉ vào phía cạnh bức tường đổ nát:
“Cái gạch lát ở đó có vẻ khác biệt.”
Khi bụi bẩn được dọn đi, vài viên gạch xanh được lộ ra.
Chú Quách dùng cây gậy đập vào chúng; sau ba lần đập, âm thanh trở nên nhẹ hơn một chút.
“Dưới đó có cái gì đó.”
Chị Bảy dán tờ giấy khô vào khe gạch; góc tờ giấy nhanh chóng ẩm ướt lại, và mép tờ xuất hiện màu xám đen.
“Dưới đó có hơi nước.”
A Thùy lùi lại một bước.
“Vậy chúng ta có nên mở nó không?”
Tôi nhìn những viên gạch đó và nói:
“Mở đi. Nhưng trước tiên hãy ghi chép lại.”
Tôi viết vào sổ ghi chép:
“Bên cạnh bức tường đổ nát, có những viên gạch xếp nghiêng. Phía dưới có hơi nước. Có thể có khoang bí mật.”
Sau khi những viên gạch được nhấc lên, một luồng không khí lạnh buốt bốc lên.
Khi viên gạch thứ tư được nhấc ra, một lỗ đen hẹp hiện ra phía dưới.
Đó không phải là hầm ngầm… Chỉ là một khoang bí mật để cất đồ.
Bên trong là một chiếc hòm gỗ được bọc bằng giấy dầu và niêm phong bằng sáp trắng.
Khi Chị Bảy nhìn thấy lớp niêm phong, cô hít một hơi thật sâu.
“Đây là loại hòm chống thấm nước.”
Cô kiểm tra xem liệu trong sáp có lẫn sợi dây đen nào không, rồi mới cho phép Chú Quách và A Thùy mang chiếc hòm ra ngoài.
Khi chiếc hòm được đặt dưới ánh sáng, tôi nhìn thấy trên nắp hòm có một vết khắc mờ ảo.
Đó không phải là dấu vết do đèn chiếu lên… Mà là một đường nước uốn lượn; ở cuối đường nước đó, có nửa chữ “sa”.
“Sa chìm…” Trái tim tôi bỗng nghẹn lại.
Chiếc hòm này không chỉ liên quan đến Tần Nhị Hà… Mà còn liên quan đến đường nước “sa chìm” nữa.
Chị Bảy mở chiếc hòm ra; bên trong không có tiếng động kỳ lạ hay nước trào ra, chỉ có mùi mực lạnh lẽo hơn.
Bên trong có ba thứ:
Một cuốn sách bìa xám, một cuốn sách bìa đen, và một cuốn khác được bọc bằng giấy dầu, dày khoảng bằng lòng bàn tay.
Cuốn sách bìa xám là loại sổ ghi chép thông thường, ghi chép về gạo, củi, muối, vải, dầu đèn, sáp trắng… Cả Tần Nhị Hà lẫn Thủy Vĩ Thiện Đường đều từng xuất hiện trong những ghi chép này, nhưng nhìn qua thì chỉ là những giao dịch hàng hóa bình thường mà thôi.
Chú Quách cau mày:
“Đây không phải là nhữ
Những dòng chữ trên cuốn sổ da đen rất nhỏ, mực có màu xanh lam.
Trang đầu tiên không ghi tên hàng hóa, chỉ có các mã hiệu.
“Chất liệu xanh lam.”
“Băng kín màu trắng.”
“Vật thể được đảo ngược.”
“Đưa xuống giếng.”
“Chuyển sang trạng thái chìm trong cát.”
Chị Bảy thì thầm:
“Chất liệu xanh lam có lẽ là dầu đèn màu xanh. Băng kín màu trắng là loại sáp dùng để niêm phong. ‘Vật thể được đảo ngược’ là những thứ có dấu vết do việc đảo ngược chúng.”
Ông Guo chỉ vào phía sau và hỏi:
“Còn ‘đưa xuống giếng’ thì sao?”
Không ai trả lời.
“Đưa xuống giếng…”
“Đưa xuống cái giếng ở phía sau đền cũ.”
Tôi lật sang trang sau.
Năm Thủy Hối thứ mười ba, ngày thứ bảy sau khi nước rút.
“Chất liệu xanh lam: ba phần nhỏ.”
“Băng kín màu trắng: sáu cân.”
“Vật thể được đảo ngược: hai mươi bảy cái.”
“Đưa xuống giếng.”
Bên cạnh còn có những dòng chữ nhỏ khác:
“Nhận.”
Dòng chữ trong danh sách cuối cùng bỗng nhiên hiện lên trong đầu tôi:
“Năm Thủy Hối thứ mười ba, sau khi nước rút… Nhận được hai mươi bảy thứ.”
Hai mươi bảy… Cũng lại là con số hai mươi bảy ở đây.
Chị Bảy chỉ vào một ký hiệu nhỏ ở mép trang sổ và nói giọng run rẩy:
“Trước đây, trong các sổ hàng hóa, người ta không ghi tên người, mà ghi là ‘miệng’.”
Ông Guo đứng sững lại.
“Vậy nên ‘vật thể được đảo ngược hai mươi bảy cái’… có nghĩa là…”
Ông không nói tiếp được.
Tôi tự viết vào sổ:
“Năm Thủy Hối thứ mười ba, ngày thứ bảy sau khi nước rút.
‘Chất liệu xanh lam: ba phần nhỏ.’
‘Băng kín màu trắng: sáu cân.’
‘Vật thể được đảo ngược: hai mươi bảy cái.’
‘Đưa xuống giếng.’
‘Nghi ngờ là hai mươi bảy người còn sống.’”
Mặt A Shun trắng bệch đi.
“Họ coi người như hàng hóa à?”
Chị Bảy thì thầm:
“Trong sổ hàng hóa, người ta không ghi tên người. Nếu ghi tên người, thì không thể buôn bán được. Nhưng nếu ghi chúng là ‘vật thể’, thì có thể chuyển nhượng được.”
Tôi tiếp tục lật trang.
Ngày thứ mười sau khi nước rút:
“‘Người còn sống’: năm cái.
‘Có thể chuyển nhượng’: ba cái.
‘Bị hôn mê’: hai cái.”
Khi bút chạm đến dòng “bị hôn mê”, tôi suýt làm rách giấy.
“Có thể chuyển nhượng.”
“Bị hôn mê.”
Đây không phải là tình trạng của hàng hóa… Mà là tình trạng của con người.
Ba người có thể chuyển nhượng, hai người bị hôn mê… Tất cả đều được ghi chép thành năm “vật thể” và được đưa xuống giếng chìm trong cát.
Sau đó, mỗi khi có lũ lớn, lụt quét hay đê vỡ, những dòng chữ này lại xuất hiện thêm trên sổ:
“Chất liệu xanh lam.”
“Băng kín màu trắ
Ba mươi bảy người.
Chen Sha Du.
Tên đó trùng khớp với tên trên tấm thẻ tàu.
Tôi lật từng trang chậm rãi hơn, và cuối cùng đã thấy một dòng chữ nhỏ bên cạnh phần ghi thông tin về những người còn sống:
Châu Trường Phúc.
Phần chữ “Trường” bị nước làm ố mờ đi một nửa, nhưng chữ “Phúc” vẫn còn rõ ràng.
Anh trai của bà Châu.
Mười chín tuổi.
Đã mất tích sau khi nước rút.
Mẹ anh ta suốt đời đều nói rằng con trai bà không phải tự ý không về nhà.
Bây giờ, ba chữ này được ghi bên cạnh thông tin về những người còn sống.
Không giống như tên người.
Giống như những dòng chữ nhỏ trên một loại hàng hóa nào đó.
Tôi giữ lại trang giấy đó và viết xuống:
Bên cạnh thông tin về những người còn sống, có tên Châu Trường Phúc. Nghi ngờ liên quan đến Chen Sha Du.
Cô Tám thì thầm: “Còn có một quyển nữa.”
Cuốn sách nhỏ được bọc trong giấy dầu, vẫn chưa được mở ra.
Bìa màu xám là các sổ sách công khai.
Bìa màu đen là các sổ sách bí mật.
Quyển này, có lẽ còn nguy hiểm hơn nữa.
Tôi hít một hơi thật sâu.
“Mở nó ra.”
Tôi từ từ bóc từng lớp giấy dầu ra.
Bên trong không phải là các sổ sách kế toán.
Mà là một chồng vé tàu.
Tấm vé đầu tiên ghi:
Chen Sha Du.
Ba mươi bảy người.
Dưới đó là một chuỗi các ký hiệu nhỏ, không phải là tên đầy đủ của mỗi người, mà chỉ là một chữ duy nhất đại diện cho họ:
Phúc.
Xuân.
A Lộc.
Tam Mễ.
Vĩnh Xuân.
Trong đầu tôi bỗng nhiên lóe lên một ý nghĩ.
Đêm hôm đó ở cây cầu Bắc Khê, tôi đã từng thấy những cái tên này trong danh sách những người ở Thủy Vĩ.
Hóa ra đó không phải là ảo giác.
Tất cả họ đều nằm trong số ba mươi bảy người ở Chen Sha Du.
Chữ “Phúc” của Châu Trường Phúc được viết ở góc trang, bên cạnh có một ký hiệu nhỏ.
“Có thể đi được.”
Cổ họng tôi se lại.
Mười chín tuổi.
“Có thể đi được.”
Vậy nghĩa là anh ta không chết dưới nước, cũng không bị đưa đi trong tình trạng bất tỉnh.
Có lẽ anh ta vẫn còn tỉnh táo.
Có lẽ anh ta đã nhìn thấy con thuyền.
Có lẽ anh ta biết rằng mình đang càng lúc càng xa nhà.
Nhưng tên của anh ta, chỉ được viết thành một chữ “Phúc” nhỏ bé, bị nhét vào góc của tấm vé tàu.
Ánh mắt A Thuận đỏ hoe lên.
“Lúc đó anh ta vẫn còn tỉnh táo ư?”
Giọng Cô Tám rất nhỏ.
“Nếu trong sổ sách ghi rằng ‘có thể đi được’, thì chắc chắn là anh ta vẫn còn tỉnh táo.”
Ông Guo đập mạnh vào chiếc thùng gỗ bên cạnh.
“Con thú đáng ghét!”
Tôi không thể nào la lên được.
Có những chuyện quá tồi tệ; nếu la lên, có lẽ chỉ khiến chúng trở nên nhẹ nhàng hơn mà thôi.
Tôi đ
Trong quá khứ, Bắc Xí còn có những tên gọi khác như A Lộc, Tam Mẫu, Vĩnh Xuân; những tên này cũng xuất hiện trên các vé thuyền.
Thất Cô lại bọc lại vé thuyền một cách cẩn thận.
“Đồ này không được để ở đây.”
Tôi gật đầu.
“Hãy mang về, nhưng không được chỉ giữ một bản thôi.”
Tôi nhìn về phía A Thùn:
“Hãy sao chép hết những dòng chữ trên vé thuyền ra.”
Rồi tôi nhìn Guo Shu:
“Anh hãy dọn hết chiếc vali và những thứ khác đi.”
Guo Shu cau mày:
“Dọn hết à?”
“Đúng vậy, dọn hết.”
Tôi nhìn chiếc vali gỗ kia:
“Đó không phải là những sổ sách cũ của Tần Nhị Hà, mà là mạng sống của những người trong đợt năm Vĩnh Hối thứ mười ba… Chúng không thể còn ở đây được.”
Chúng tôi đã ở trong kho hàng gần một tiếng đồng hồ. A Thùn sao chép vé thuyền, Thất Cô bọc lại những thứ cần đem theo, Guo Shu buộc chặt chiếc vali, còn tôi thì kiểm tra lại từng khoản trong sổ hàng một lần nữa.
Khi chúng tôi mang chiếc vali ra khỏi kho hàng, mặt trời đã lên cao.
Nơi đó yên tĩnh đến lạ, như thể chẳng có gì xảy ra cả.
Nhưng tất cả chúng tôi đều biết rằng, đã có một “sợi dây” được kéo ra từ đó – một sợi dây từ cuối con thuyền kéo dài về phía đám cát chìm.
Trước khi ra khỏi cửa, tôi viết một dòng chữ bằng than lên khung cửa:
“Sổ sách đã được lấy đi. Những bằng chứng liên quan đến con người cũng đã được thu thập.”
Guo Shu nhìn dòng chữ đó, khóe miệng anh ta co lại:
“Bây giờ cô viết chữ càng ngày càng mạnh tay hơn rồi.”
Thất Cô nói lạnh lùng:
“Điều bị đánh cắp là mạng sống con người, chứ không phải là những sổ sách.”
Con đường trở về nơi tái định cư càng trở nên gian nan hơn so với khi chúng tôi đến đây. Guo Shu đeo chiếc vali trên lưng, A Thùn ôm theo những bản sao vé thuyền, Thất Cô cầm chiếc hộp gỗ nhỏ, còn tôi thì ôm theo sổ hàng và danh sách những người ở cuối con thuyền.
Khi chúng tôi nhìn thấy lều trại từ xa, bà Chu đã ngồi đó từ lâu rồi. Có vẻ như bà ấy đã đang chờ đợi chúng tôi từ lúc nào đó. Bà ấy không hỏi liệu chúng tôi có tìm thấy gì không, mà chỉ hỏi:
“Có anh trai tôi không?”
Khi tôi đến bên bà, cổ họng tôi như bị nghẹn lại. Sau một lúc lâu, tôi mới thì thầm:
“Có.”
Tay bà Chu run rẩy. Bà nhắm mắt lại, và những giọt nước mắt từ từ tràn ra từ những nếp nhăn trên khuôn mặt bà.
“Anh ấy không phải tự nguyện không về nhà, đúng không?”
Tôi nhìn bà.
“Không.”
Đôi vai bà sụp xuống. Như thể suốt những thập kỷ qua, có ai đó đã đỡ lấy gánh nặng đ
Bà Châu khóc đến nỗi không còn tiếng nói, chỉ liên tục gật đầu.
“Tôi đã biết rồi… Mẹ tôi cũng biết… Tất cả chúng tôi đều biết.”
Bà nắm lấy tay áo tôi.
“Vậy sau đó anh ấy đi đâu?”
“Đến Chén Sa Độ.”
Bà ngẩn ngơ.
“Cách đó xa lắm à?”
Chú Quách thì thầm:
“Phía hạ lưu, phải đi bằng đường thủy.”
Bà Châu gật đầu.
Một lát sau, bà nói nhỏ:
“Vậy vẫn còn hy vọng tìm thấy anh ấy.”
Trái tim tôi se lại.
Đối với bà, câu nói này đã đủ rồi.
So với việc mất tích và không trở về, chỉ cần biết là có một nơi để tìm kiếm, thì đó đã là niềm hy vọng.
Dù nơi đó cách đây hàng chục năm, cách đó bằng dòng sông, cách đó bởi con đường Chén Sa…
Tôi nắm lấy bàn tay lạnh giá của bà.
“Tôi sẽ ghi nhớ.”
“Châu Trường Phúc…”
“Chén Sa Độ…”
“Tôi sẽ tiếp tục tìm hiểu.”
Khi chúng tôi đặt chiếc thùng gỗ lên bàn, mọi người trong túp lều đều tụ tập lại xung quanh.
Sổ danh sách người sống… Sổ gia đình… Sổ hàng hóa… Danh sách người ở Thủy Vị… Hồ sơ cũ của Tần Nhị Hà… Vé tàu Chén Sa…
Tất cả được xếp chồng lên nhau trên bàn.
Ánh lửa chiếu sáng những tờ giấy đó.
Lần này, chính chúng tôi đã lật lại những hồ sơ cũ.
Tôi nhìn vào tấm vé tàu đó.
Chén Sa Độ…
Ba mươi bảy người…
Châu Trường Phúc…
A Lộc…
Em gái út…
Vĩnh Xuân…
Những cái tên này không còn chỉ là những bóng ma dưới cầu, cũng không còn chỉ là những dòng chữ ma quỷ trên sổ danh sách nữa.
Họ đã lên tàu, đi qua đường thủy, và bị coi như hàng hóa mà được gửi đi.
Thủy Vị không phải là điểm cuối cùng.
Chén Sa mới là nơi tiếp theo.
Tôi cúi đầu và viết bốn chữ lên tờ giấy mới:
“Người còn sống.”
Sau khi viết xong, tôi lại thêm một dòng bên dưới:
“Con người không phải là hàng hóa.”
Khi bút chạm xuống giấy, ngọn lửa trong bếp lửa nhẹ nhàng bùng lên.
Trang danh sách Thủy Vị, trang ghi về cái giếng phía sau đền cổ, dường như chìm xuống một chút.
Như thể có điều gì đó ở đáy giếng cuối cùng cũng đã bắt đầu phản ứng…
Chưa có truyện phù hợp.