Chương 621: Những mỏ than nhỏ do làng quản lý, nở rộ khắp nơi, mở ra cuộc cách mạng về nhiên liệu
Năm 1782, mùa xuân đến muộn hơn bình thường. Các nhà máy sản xuất than đá liên tục được khai trương và tăng sản lượng.
Ở các khu vực phía nam sông Dương Tử, tất cả người dân trong thành thị, các nhà máy, hầu hết các xưởng thợ và những gia đình giàu có ở nông thôn cuối cùng cũng có thể sử dụng loại than hoa giá rẻ này.
Một số người trong đế chế đã được hưởng lợi từ những thành quả đầu tiên của quá trình công nghiệp hóa.
Đồng thời, việc tiêu thụ củi (than gỗ) giảm đi, và người dân ở các vùng nông thôn cũng có thêm nguồn củi để sử dụng.
Cuộc cách mạng nhiên liệu đã tiến triển một bước lớn.
Tuy nhiên, Lý Dục không hài lòng chút nào.
Dựa trên số lượng than đá được sản xuất hàng ngày, ông ta tính toán một cách đơn giản và nhận ra con số thật đáng thất vọng.
Điều này cho thấy lượng than đá tiêu thụ trung bình per người trong đế chế còn rất thấp.
Ngay cả khu vực phía nam, nơi đã bắt đầu hoạt động công nghiệp hóa từ vài năm trước, tình hình cũng chỉ như vậy; còn ở miền bắc, lượng than đá tiêu thụ trung bình per người gần như bằng 0.
Điều này không thể chấp nhận được.
Lượng than đá và sắt tiêu thụ có mối quan hệ trực tiếp đến sự sâu rộng của cuộc cách mạng công nghiệp.
Lý Dục suy nghĩ mãi trên chiếc bàn làm việc rộng ba trượng, dài hai trượng trong cung điện, và cuối cùng ông ta đã nghĩ ra một giải pháp.
……
Sơn Tây, huyện Trưởng Tử.
Vị quan huyện vẫn chưa đến nhậm chức.
Tại tòa án huyện, chỉ có 3 binh sĩ đóng quân, họ hàng ngày mang súng đi tuần tra khắp thành phố để thể hiện sự hiện diện của chính quyền; những việc khác thì không ai quan tâm đến.
Ở cổng thành phố, một nhóm người đang tụ tập lại.
Có một người đọc sách đang đọc thông báo của triều đình:
“Từ hôm nay trở đi, triều đình hoàn toàn bãi bỏ lệnh cấm người dân khai thác mỏ than.”
“Không cần sự phê duyệt của chính quyền, mỗi làng đều có thể tự mình khai thác than đá trong địa phương. Than đá là món quà của thiên nhiên, vì vậy các làng nên cùng nhau khai thác để cùng nhau hưởng lợi. Ngoài việc sử dụng cho nhu cầu riêng, than đá sản xuất ra cũng có thể được bán ra ngoài thị trường. Kỹ thuật sản xuất than hoa cũng được công bố cùng với thông báo này, nhằm mang lại lợi ích cho người dân.”
“Các mỏ than do làng tự quản lý sẽ được miễn thuế trong năm đầu tiên.”
“Từ năm thứ hai trở đi, các làng phải nộp thuế theo mức cố định là 50 lượng mỗi năm. Nếu lượng than sản xuất ra cạn kiệt và mỏ phải đóng cửa, thì sẽ không còn thu thuế nữa vào năm sau.”
……
Mọi người đều im lặng, ngẩng đầu lên nghe.
Người đọc thông báo nói với giọng đầy hứng thú:
“Muốn thành công trong bất cứ
Mọi người đều im lặng không một tiếng động nào.
Vua mới thật sự rất hào phóng~
Một lúc sau, có người bắt đầu thì thầm: “Nếu điều này là sự thật, thì quả là một chuyện tốt lớn. Những của cải khổng lồ ấy sẽ được chia cho mọi người dân trên đất nước.”
Những người xung quanh đều gật đầu đồng ý.
……
Việc khai thác mỏ than không đòi hỏi kỹ thuật gì đặc biệt. Chỉ cần một người, một cái giỏ và một cái cuốc sắt là có thể bắt đầu công việc.
Tuy nhiên, bất kỳ ai có chút kinh nghiệm sống trong xã hội đều hiểu một quy luật: những việc có vẻ đơn giản thực ra lại rất phức tạp; ngược lại, những việc có vẻ phức tạp lại thực sự rất đơn giản.
Lý Dục Đúng vậy~
Vì vậy, anh ta muốn làm cho việc khai thác than – một công việc có vẻ đơn giản – trở nên càng đơn giản hơn nữa.
Các thương nhân mỏ của đế quốc tỏ ra rất bất mãn và nói rằng:
“Hoàng thượng thật sự quá khoan dung. Việc chia những thứ vàng đen này cho những kẻ nghèo khó thật là một tội ác.”
Tuy nhiên, nếu Hoàng thượng đã quyết định như vậy, ai dám cản trở?
Khi lệnh khai thác mỏ được ban hành, lợi nhuận của các mỏ than lớn sẽ bị ảnh hưởng đến một mức nào đó, nhưng không đến nỗi gây thiệt hại nghiêm trọng.
Những công ty bán than viên ở các tỉnh mới là những nơi chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Họ buộc phải đóng cửa ngay lập tức.
Vài thập kỷ sau, mọi người đánh giá như sau:
Năm 1782, cuộc cách mạng nhiên liệu diễn ra nhanh chóng, và Cách mạng Công nghiệp bắt đầu phát triển mạnh mẽ.
……
Tại huyện Trường Tử, làng Tiểu An, người dân ở đây sống rất khó khăn.
Sau khi thông báo hoàng gia được lan truyền khắp huyện, người dân làng Tiểu An đã bàn bạc và quyết định bầu ông Triệu Thượng Nguyên – người đứng đầu việc sản xuất lương thực của làng – làm người đứng đầu công việc khai thác mỏ.
Ông Triệu Thượng Nguyên biết đọc biết viết và có khả năng tính toán. Trước đây, ông đã làm học trò tính toán tại một cửa hàng ở thành phố Thái Yên trong 4 năm; sau đó, do cửa hàng đó phá sản, ông cũng mất việc làm và trở về quê hương.
Chính phủ đã công bố công thức để sản xuất than viên.
Nói thật, công thức đó không hề khó khăn gì cả. Chủ yếu là việc soạn thảo “Quy định về việc khai thác mỏ than của làng Tiểu An, huyện Trường Tử”. Mọi người đã tranh luận và mất cả một ngày mới hoàn thành việc điền vào định dạng quy định đó.
Ba điều then chốt nhất trong quy định là về việc đi làm, phân phối và trợ cấp.
Việc đi làm và phân phối có mối liên hệ mật thiết với nhau: ai làm nhiều thì sẽ nhận được nhiều hơn. Ngoài ra,
Thị trường đổ xô tới như một cơn lũ. Lý do rất đơn giản: giá rẻ. Các thùng và cuốc sắt đã có sẵn, gỗ được tự chế tạo, đất sét vàng miễn phí, còn than thì là của thiên nhiên ban tặng. Tất cả những thứ này đều không tốn kém chi phí gì cả. Chỉ còn lại chi phí lao động con người. Và chi phí lao động ở làng Tiểu An, thậm chí cả huyện, thì cực kỳ thấp. Trồng trọt là công việc chính, khai thác mỏ chỉ là công việc thêm thời gian. Mỗi ngày, phụ nữ và trẻ em kiếm được khoảng 10 văn tiền từ công việc này, còn đàn ông thì kiếm được 50 văn; điều đó khiến họ cảm thấy rất hài lòng và mãn nguyện. Họ coi đó như là món quà từ thiên nhiên. Lao động viên chức không đáng giá lắm. Ngay cả vào cuối thế kỷ 20, lao động viên chức ở nông thôn vẫn không đáng giá. Việc làm những công việc bẩn thỉu và vất vả mà vẫn được trả mức lương cao chỉ là hiện tượng đặc trưng của xã hội công nghiệp, chứ không tồn tại trong xã hội nông nghiệp. Nếu như vào cuối thế kỷ 20 đã như vậy, thì vào cuối thế kỷ 18 lại càng không nói lên được điều gì. Khi xã hội nông nghiệp đang từ từ chuyển đổi sang giai đoạn đầu của xã hội công nghiệp, mức giá lao động ở nông thôn thấp đến mức đáng kinh ngạc. …… Tâm lý của người dân làng Tiểu An là: miễn là kiếm được tiền là được. Dù là một văn hay hai văn, đều là tiền cả. Cảm giác kiếm tiền ngay tại ngõ nhà mình thật sự rất tuyệt vời. Từ thế kỷ 18 đến thế kỷ 20, môi trường sống ở miền Bắc ngày càng trở nên tồi tệ hơn, thảm thực vật trên mặt đất dần biến mất. Để có được một bó củi, người ta phải đi rất xa mới có thể hái được. Hơn nữa, giá trị nhiệt của củi gần như không thể so sánh được với than cục. Vì vậy, khi than cục của làng Tiểu An được tung ra thị trường, nó đã ngay lập tức được mọi người săn đón. Tiết kiệm tiền mới là điều quan trọng nhất. Giá rẻ mới là yếu tố then chốt. Người dân làng Tiểu An vui mừng, chi ra một số tiền lớn để mua một bức tranh Ngô Hoàng đã phai màu từ người lính ở thị trấn và đặt nó trong đền thờ của làng, nơi luôn có hương khói liên tục suốt ngày đêm. Tuy nhiên, bụi than quá nhiều; nếu không lau chùi sau nửa ngày, bức tranh sẽ bị phủ một lớp bụi. …… Chỉ sau 2 tháng, toàn bộ huyện Trưởng Tử và cả tỉnh Lỗ An đều nổi lên trào lưu khai thác mỏ do các làng tự tổ chức. Nếu làng bạn có thể làm được, tại sao làng tôi lại không? Toàn bộ tỉnh Sơn Tây đều có than. Tại sao tiền này lại phải thuộc về các bạn? Rất nhiều người đã theo đuổi xu hướng này. Chỉ trong vòng nửa năm, than
Người dân bình thường chắc chắn sẽ không chi tiền để mua những thứ mà họ có thể tự mình lấy được bằng công sức của mình.
……
Chu Thượng Nguyên đột nhiên nhận ra một nguyên lý kinh tế đơn giản: Điều gì hiếm thì càng quý giá.
Anh đã chia hơn 200 lượng bạc thu được từ mỏ than do làng quản lý cho mỗi người dân, và nhường chức vụ trưởng kho bạc cho em trai mình, rồi rơi nước mắt chia tay người dân trong làng…
Anh đã nghĩ ra một phương thức kiếm tiền.
Hãy đến một khu vực có ít tài nguyên than hơn, hợp tác với người dân địa phương để mở một mỏ than duy nhất trong vùng đó, và bạn sẽ có thể kinh doanh lâu dài.
Nhưng Sơn Tây thì không thích hợp.
Ở đó, than rất nhiều nhưng lại rẻ.
……
Anh đầu tiên đến Hắc Long Giang, nơi có rất nhiều người di cư từ Sơn Tây.
Kết quả?
Thật là thất vọng.
Nơi đó toàn rừng rậm; việc khai thác than hoàn toàn không có thị trường.
Vì vậy, anh tiếp tục đi đến Hà Nam.
Lần này, anh tìm được địa điểm phù hợp: huyện Dương, phủ Nhữ Châu. Nơi đây có than, nhưng không phải ở khắp mọi nơi; xung quanh là đồng bằng rộng lớn với dân số đông đúc, nên nhu cầu về nhiên liệu rất lớn.
……
Sau nhiều lần khảo sát, cuối cùng anh chọn một khu vực ở rìa mỏ than Nhữ Châu.
Trên bề mặt mỏ than có 4 làng, và một con sông chảy qua khu vực đó.
Theo lời mời của anh, hơn mười người già từ 4 làng đó đã tụ tập lại với nhau.
Họ nhìn nhau một cách ngại ngùng.
Họ đã sai người đến thị trấn để xem thông báo của triều đình và xác nhận rằng người đàn ông ngoại tỉnh này không nói dối. Tuy nhiên, những điều mới mẻ thường tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Một người già hỏi:
“Thưa ngài, việc khai thác mỏ có nguy cơ gì không?”
“Có chứ, tất nhiên là có.” Chu Thượng Nguyên ăn mặc rất chỉn chu, đặc biệt mặc chiếc áo lụa đen mà anh đã tiết kiệm tiền để mua khi còn học nghề ở Thái Yên.
“Vậy thì ngài vẫn dám…?”
“À, tôi có người quen ở trên.”
“Ah…” Mọi người đều hiểu ra.
……
“Nếu các bạn tự mình làm việc này, chắc chắn sẽ có rủi ro. Nhưng nếu hợp tác với tôi, thì sẽ không có gì nguy hiểm cả.” Chu Thượng Nguyên lại một lần nữa giải thích rõ ràng các điều khoản, sau đó hỏi: “Các bạn đồng ý không?”
Tất cả mọi người đồng loạt trả lời: “Đồng ý!”
Ngay lập tức, họ tìm giấy bút để ký hợp đồng.
Mọi người đều đặt dấu vân tay đỏ thắm lên hợp đồng.
Ngày hôm sau, Chu Thượng Nguyên lén lút đến thành phố Nhữ Châu và vay 100 lượng bạc từ công ty tài chính Tứ Hải để làm vốn khởi nghiệp.
Giám đốc chi nhánh Ruzhou là người quê Sơn Tây do tổng giám đốc Lưu Kim Tín đưa đến đây.
Khi người quê gặp nhau, ai nấy cũng rơi nước mắt. Vì vậy, quá trình vay mượn diễn ra cực kỳ thuận lợi. Giám đốc còn sử dụng mối quan hệ cá nhân của mình để chi tiền thuê một binh sĩ bảo vệ Zhao Shangyuan trên đường trở về.
…
Bất kỳ ai có chút kinh nghiệm sống trong xã hội đều biết rằng việc một người ngoại địa đến một vùng đất xa lạ để kinh doanh thực sự tiềm ẩn nhiều rủi ro. Nhẹ thì mất tất cả vốn liếng, nặng thì có thể phải chết ở xứ người.
Bốn năm học nghề tại thành phố Thái Nguyên đã dạy cho Zhao Shangyuan rất nhiều điều. Anh không bao giờ tin vào lòng người. Những mối quan hệ “trên” mà anh thường nhắc đến, cùng với việc thuê binh sĩ bảo vệ, đều là những công cụ mà anh sử dụng để đe dọa người dân địa phương.
Đàn ông xuống hầm khai thác than, phụ nữ làm than viên, người già và trẻ em đi bán hàng. Công việc nông nghiệp và khai thác mỏ đều được tiến hành song song. Bản thân Zhao Shangyuan thì cứ ba ngày lại một lần lên thị trấn, uống rượu đến say mèm rồi về khoe khoang:
“Tôi đã đi mang quà tặng cho các quan chức ở thị trấn.”
Người dân bốn làng đều rất kính trọng anh.
Vùng Trung Nguyên thiếu hụt nhiên liệu nghiêm trọng, vì vậy việc bán than viên diễn ra cực kỳ suôn sẻ. Việc tiết kiệm chi phí mới chính là yếu tố then chốt. Than viên sản xuất từ các mỏ than nhỏ có chi phí thấp, giá bán rẻ hơn nhiều so với củi có cùng giá trị nhiệt.
…
Chỉ sau nửa tháng, mỏ than đã bắt đầu có lợi nhuận. Lương công nhân luôn được trả đầy đủ, sổ sách được ghi chép rõ ràng. Mọi người trong bốn làng đều rất vui vẻ và nỗ lực hết mình. Theo thỏa thuận trước đó, Zhao Shangyuan nhận 30% lợi nhuận, còn 70% lợi nhuận sau khi trừ đi các chi phí sẽ được dùng để sửa chữa đền thờ. Mọi người đều đồng ý với điều này!
Dù đôi khi có những người trẻ lẩm bẩm rằng thực ra không cần đến ông chủ Zhao – một người ngoại địa – mà mọi người trong làng cũng có thể tự mình khai thác mỏ; việc kinh doanh này không hề khó, ngay cả kẻ ngốc cũng có thể làm được. Nhưng các bậc trưởng lão đã nhanh chóng dập tắt những ý kiến như vậy. Họ sợ rằng những hành động “ăn không chia” đó sẽ khiến họ phải gánh chịu hậu quả nghiêm trọng từ “những người quyền lực” đứng sau Zhao Shangyuan.
Qua hàng chục năm sinh tồn, họ đã rút ra hai nguyên tắc sống đơn giản nhưng hiệu quả:
“Nếu không có sự liên kết, thì sẽ không thể tiến triển được.”
Nhìn vào những việ
Tuy nhiên, vào tháng thứ tư, một góc hầm mỏ đã sụp đổ, khiến 2 người thiệt mạng và 1 người bị thương.
Theo quy định, gia đình các nạn nhân được trả 25 lượng bạc làm tiền tử tuất.
Ngoài ra, Zhao Shangyuan còn tự bỏ thêm 10 lượng từ tiền riêng của mình, và thuyết phục mọi người quyên góp thêm 10 lượng từ số vốn dư thừa. Như vậy, mỗi mạng người đều được bồi thường 45 lượng. Gia đình các nạn nhân đã yên tâm hơn.
Trong thế giới này, mọi thứ đều có giá trị; mạng người cũng không ngoại lệ.
Vụ tai nạn không làm cho người dân trong làng sợ hãi. Ngược lại, sau khi hầm mỏ được gia cố chắc chắn, việc khai thác mỏ lại phát triển mạnh mẽ hơn. Nghèo đói còn đáng sợ hơn cái chết gấp hàng trăm lần.
…
Zhao Shangyuan vô cùng vui mừng; ông cuối cùng cũng tìm thấy một “biển xanh” để phát triển sự nghiệp. Để mở rộng và củng cố hoạt động kinh doanh, sau nhiều lần gặp gỡ các quản lý đồng hương tại thành phố Tài chính Bốn Biển, mỏ than của ông đã có thêm một đối tác đáng tin cậy.
Kinh doanh mỏ than ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Một lần nọ, sau khi uống rượu say, hai người đã bàn luận riêng về điều này: Hà Nam, Hà Bắc, Sơn Đông, Giang Tô đều không phải là những tỉnh sản xuất than lớn, nhưng vẫn có rất nhiều người thông minh đã trở nên giàu có nhờ việc khai thác mỏ; họ thậm chí đã thành công trong việc vận chuyển than qua Đại Vận Hà đến các huyện, tỉnh lân cận.
Tuy Shan Xi cũng có nguồn than dồi dào, nhưng vì mọi làng đều có than, nên không tìm được thị trường tiêu thụ. Người dân trong làng cũng đã nghĩ đến việc bán than ra ngoài tỉnh, nhưng chi phí vận chuyển cao khiến việc này trở nên bất khả thi.
Tuy nhiên, kinh nghiệm kinh doanh dày dặn đã thúc đẩy một số thương nhân từ Shan Xi đi về phía nam để tìm kiếm cơ hội kinh doanh.
…
Nhờ sự khuyến khích của Lý Dục, ngành khai thác mỏ của đế chế đã trải qua một giai đoạn phát triển chưa từng có. Những người liều lĩnh đã trở nên giàu có; những người có mối quan hệ rộng lớn thì thu được lợi nhuận khổng lồ; những người am hiểu thông tin thì thu về rất nhiều. Thương nhân từ Shan Xi và Chiết Giang là những người hưởng lợi nhiều nhất trong làn sóng này.
Người Shan Xi bắt đầu từ con số không, nhờ sự liều lĩnh và việc nắm bắt thông tin kịp thời. Còn người Chiết Giang thì có nhiều ưu thế hơn, về cả vốn, thông tin lẫn mối quan hệ.
Nếu không phải vì chỉ thị nghiêm ngặt của Ngô Đình – yêu cầu các mỏ than do làng quản lý không được phép bỏ qua người dân địa phương – thì mọi chuyện có lẽ đã đi theo hướng khác.
Hiệu quả của những biện ph
Một người ăn thịt, cả làng uống canh.
Một người giàu có, cả gia tộc đều hưởng lợi.
Chỉ trong vòng 1 năm ngắn ngủi, theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, lượng than đá sản xuất ra đã vượt qua tổng sản lượng của 5 năm trước đó.
Các chuyên viên thuế tại nhà máy có thể chứng minh rằng các dây chuyền sản xuất lò than sử dụng để chế tạo đồ sắt lớn đang hoạt động hết công suất, không ngừng nghỉ. Những chiếc lò than dùng than cục đi kèm với gang thô luôn bán hết ngay khi được tung ra thị trường.
Mỗi chiếc lò than được bán ra đồng nghĩa với việc một gia đình trong đế quốc đã bắt đầu sử dụng than cục.
Ánh sáng của nền văn minh đang lan tỏa khắp mọi nơi.
Nếu theo xu hướng này…
Ba đến năm năm sau, cuộc cách mạng nhiên liệu có thể được coi là đã đạt được thành công ban đầu.
Trong phạm vi đế quốc, những nhóm người có điều kiện sử dụng than đá sẽ được bao phủ hoàn toàn; còn những nhóm không có điều kiện đó thì trong thời gian ngắn tới cũng không cần phải lo lắng gì nữa! Không có tiền, thì không có giải pháp…
……
Lý Dục Anh ta biết cách sống thoải mái; anh ta không có những chuẩn mực đạo đức quá khắt khe, cũng không bao giờ theo đuổi sự hoàn hảo tuyệt đối.
Là một vị hoàng đế phong kiến…
Việc đạt 30% tiến độ đã là đủ tốt; 40% là xuất sắc; 60% mới là hoàn hảo.
Nếu đạt 90%, có thể chọn một ngày nào đó để đăng quang thành Hoàng Đế Vĩ Đại.
Chưa có truyện phù hợp.