Chương 213: Nền tảng của công nghiệp hóa
Vào cuối mùa hè, tại kinh đô này, ánh nắng mặt trời xuyên qua những đám mây thưa thớt, rải xuống thành phố được phủ một lớp bụi vàng óng ánh. Gió nhẹ mang theo hương thơm của cỏ cây, và đôi khi còn vang lên tiếng ve kêu yếu ớt từ xa.
Được khoác trên người bộ áo lụa sang trọng, cưỡi trên con ngựa oai vệ, dưới sự bảo vệ của các binh sĩ thuộc lực lượng Jinyiwei do Jiang Qing chỉ huy, ông ta hướng tới xí nghiệp luyện thép thuộc Cục Quân khí Bộ, nằm không xa thành phố.
Lý do ông ta đến đó là bởi vì lũ lụt dữ dội ở cửa sông Dương Tử đã khiến ông nhận ra rằng cấu trúc bằng đất đá hiện có của Đại Minh không còn đủ để đáp ứng nhu cầu thi công chống lũ nữa. Và như người ta thường nói: “Nếu muốn giàu có, trước hết phải xây dựng đường xá.” Việc xây dựng đường xá chắc chắn không thể chỉ dùng đất hay đá phiến được.
Đối với các cơ sở giao thông hiện đại, cấu trúc bằng thép cáp và bê tông đã trở thành tiêu chuẩn. Ông ta hiểu rõ rằng nếu muốn Đại Minh trở nên mạnh mẽ hơn, họ cần phải tự sản xuất loại vật liệu này. Chỉ khi có năng lực công nghiệp như vậy, họ mới có thể xây dựng một mạng lưới giao thông vận tải. Dù nền kinh tế của Đại Minh tập trung ở những khu vực có hệ thống giao thông sông hồ phát triển, nhưng vẫn còn nhiều nơi gặp phải tình trạng giao thông kém phát triển. Nếu muốn kinh tế phát triển, Đại Minh không thể mãi mãi bị giới hạn trong khu vực phía nam sông Dương Tử; việc xây dựng một mạng lưới giao thông đường bộ cũng là điều cần thiết.
Việc sản xuất bê tông không quá khó, kỹ thuật không phức tạp lắm – nó chỉ là phiên bản nâng cao của công nghệ sản xuất xi măng mà thôi. Nhưng điều quan trọng nhất vẫn là thép cáp, và Đại Minh hiện vẫn chưa thể sản xuất được loại vật liệu này.
Tuy nhiên, Đại Minh lại có thể sản xuất ra lượng lớn sắt. Vì vậy, vấn đề hiện tại không nằm ở sản lượng sắt mà là sản lượng thép. Thực tế, thị trường thép của Đại Minh đang gặp tình trạng nhu cầu thấp so với khả năng sản xuất, dẫn đến tình trạng dư thừa công suất. Sản lượng thép hàng năm của cả nước đủ để đáp ứng nhu cầu trong ba đến bốn năm. Các nhà máy sắt do nhà nước quản lý thường hoạt động một năm rồi nghỉ ba năm liền. Để tránh lãng phí trong chu kỳ sản xuất này, triều đình thậm chí còn đóng cửa một số nhà máy sắt và mở cửa ngành công nghiệp này cho tư nhân.
Lý do chính khiến Đại Minh không còn kiểm soát độc quyền ngành công nghiệp sắt như thời Hán nữa, là do sự gia tăng cường độ giám sát cùng với việc công nghệ luyện thép không hề được cải thiện trong thời gian dài. Hơn nữa, các nhà
Hơn nữa, về mặt phát triển công nghiệp, thực sự thì ngành công nghiệp nặng khó phát triển hơn ngành công nghiệp nhẹ. May mắn thay, số lượng các lĩnh vực công nghiệp nặng cần được phát triển ngay từ đầu không quá nhiều; chỉ cần phát triển ngành công nghiệp than và sắt là đủ rồi.
Vì vậy, ông quyết định tự mình đến kiểm tra xưởng luyện thép.
Xưởng luyện thép nằm dưới chân một ngọn núi ở vùng ngoại ô kinh thành, xung quanh là cây xanh um tùm, môi trường yên bình và có cả dòng sông – hoàn toàn khác với những gì ông tưởng tượng trước đây. Khi đến nơi, các thợ thủ công đang bận rộn làm việc; tiếng đập búa và tiếng lò nung hòa quyện vào nhau.
Sau khi xuống ngựa cùng với Jiang Qiang và những người khác, họ buộc ngựa lại và không dừng lại lâu, mà theo sự dẫn đường của các quan chức Bộ Công thương đã đến đón, họ đi thẳng vào xưởng luyện thép.
Các đơn vị nhỏ như “viện”, “cục” hay “sở” thường là những cơ sở sản xuất chuyên biệt thuộc sự quản lý của các bộ. Lấy Bộ Công thương làm ví dụ, do liên quan đến nhiều khía cạnh như thi công và mua sắm, nên có rất nhiều đơn vị con, như Viện Văn Sĩ, Cục Da Giày, Cục Yên Ngựa, Cục Châu Báu, Cục Màu Sắc, Cục Quân Khí, Xưởng Dệt Nhuộm, Cục Đồ Gỗ, Cục Củi Than, Xưởng Đúc Pháo, v.v. Các quan chức đứng đầu những đơn vị này thường mang chức danh “đại sứ”, còn phó quan thì là “phó đại sứ”.
Những đơn vị này thường được quản lý bởi các đại sứ cấp chín phẩm, nhưng trong thời Minh, chức danh “đại sứ” có ý nghĩa hoàn toàn khác so với sau này; nó chỉ đại diện cho quan chức giám sát các đơn vị con, thường có hai cấp bậc: chín phẩm chính thức và không được xếp vào hạng cao cấp.
Dưới sự hướng dẫn của đại sứ xưởng luyện thép, ông quan sát mọi thứ xung quanh và không khỏi thán phục tài năng của các thợ thủ công ở đây, tuy nhiên, theo ông đánh giá, những công cụ và kỹ thuật họ sử dụng thì còn rất lạc hậu. Chắc chắn là không hề có máy móc hiện đại nào cả, cũng không có lò luyện thép kiểu hiện đại; tất cả chỉ là những cái lò bằng đá có hình dạng đa dạng mà thôi.
Dưới sự hướng dẫn của một thợ thủ công già, ông đến gần lò nung. Lửa đang cháy rực, dung thép đang cuộn tròn bên trong lò, phát ra ánh sáng chói lọi; trên đó, có người đang dùng xẻng múc cát sắt đổ vào lò để cung cấp nguyên liệu.
“Hãy giới thiệu cho tôi biết, những cái lò này có tên gọi là gì.”
“Cái này là lò Đại Kiến; lớp trong của lò được làm từ đá bò có khả năng chịu nhiệt cao, còn cửa lò thì được làm từ đá Jian Qian Shi. Mỗi 100 cân
Anh ấy gật đầu rồi hỏi tiếp: “Vậy vật liệu được cung cấp trên kia là cái gì?”
“Đó là cát đen, tức là quặng sắt thô.”
Người thợ dẫn họ đến một lò nung nhỏ hơn ở phía bên kia và giải thích: “Đây là lò luyện sắt; chúng ta không sử dụng đá đầu bò, mà thay vào đó là loại đá có khả năng cách nhiệt, cùng với gạch lửa và gạch đỏ để xây dựng lò. Lò này chủ yếu được dùng để sản xuất gang thô.”
“Còn đây là lò tinh luyện thép, dùng để xử lý gang thành thép.”
Phương pháp tinh luyện thép nghe có vẻ như là việc xào nấu thép, nhưng thực ra vẫn là xử lý gang. Quy trình này đã tồn tại từ rất lâu, trước cả khi Vương Mãnh chiếm đoạt triều đình Hán. Vai trò của lò tinh luyện thép là làm nóng gang thô đến trạng thái bán lỏng, sau đó người thợ liên tục khuấy đều và xào nấu nó, tương tự như việc nấu ăn trong nồi. Nhờ vậy, các chất carbon và tạp chất trong gang thô sẽ tiếp xúc với không khí và bị oxy hóa, từ đó tạo ra thép có chất lượng tốt hơn. Thép đã qua xử lý này thường được dùng để chế tác đồ dùng gia dụng. Từ thời Tây Hán cho đến đầu thời Minh, phương pháp tinh luyện thép đã trải qua hàng nghìn năm phát triển, và công nghệ hiện nay có thể coi là đã gần hoàn hảo, không còn nhiều điểm cần cải thiện nữa. Vì vậy, về khả năng công nghiệp, triều đại Đại Minh hoàn toàn có thể thực hiện quy trình này một cách hiệu quả.
Bên cạnh phương pháp tinh luyện thép, còn có phương pháp đổ thép – một kỹ thuật cũng được ghi chép trong sách giáo khoa. Tuy nhiên, Chu Hùng Anh không thấy bất kỳ dấu vết nào về việc áp dụng phương pháp này tại xưởng luyện thép, nên không khỏi hỏi: “Hiện nay vẫn còn sử dụng phương pháp đổ thép không?”
Các người thợ nhìn nhau, cuối cùng người thợ già trả lời: “Nếu không có nhiệm vụ khẩn cấp, chắc chắn là không ai sử dụng phương pháp đổ thép đâu.”
Viên đại sứ của xưởng luyện thép ho khan một tiếng và nói: “Cục Quân khí có yêu cầu về chất lượng vũ khí; tôi không cho phép họ sử dụng phương pháp đổ thép để sản xuất vũ khí đâu.”
Chưa có truyện phù hợp.