lore

Chương 114: Bản vẽ tàu chiến buồm Victory

7,267 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Lý do khiến bộ bản vẽ này thu hút sự chú ý của Chu Hùng Anh là bởi vì Chu Hùng Anh nhận thấy rằng nó rất phù hợp để tặng cho ông nội; nếu có ích, ông nội có thể dâng lên triều đình, còn nếu không, việc giữ lại nó cũng không gây ra tổn thất gì.

Có hai lý do chính:

Thứ nhất, đây là bản vẽ của một chiếc tàu chiến buồm, và đó là một chiếc tàu đã trải qua nhiều trận chiến và có thành tích xuất sắc, thuộc hàng sản phẩm hàng đầu của kỷ nguyên tàu chiến buồm. Điều này có nghĩa là hiệu quả chiến đấu của nó là đáng tin cậy, và chắc chắn nó sẽ không trở thành thứ vô dụng sau khi được chế tạo.

Trên thực tế, ở bức tường bên cạnh cũng ghi rõ rằng Anh là một trong những quốc gia đầu tiên phát triển tàu chiến buồm. Tàu “Victory” của Anh là một trong những chiếc tàu chiến buồm xuất sắc nhất, cũng là niềm tự hào của Hải quân Anh. Trong cuộc Cách mạng Mỹ, nó đã tham gia vào các trận chiến như Trận chiến quần đảo Ascension từ năm 1778 đến năm 1781; sau đó, trong Cách mạng Pháp năm 1797, nó đã tham gia vào Trận chiến Cape Saint Vincent và giành chiến thắng lớn trước Hải quân Tây Ban Nha; và trong thời kỳ Napoleon, nó đã tham gia vào Trận chiến Trafalgar, nổi tiếng thế giới vì là chiến hạm chủ lực của đại tướng Hải quân Anh Nelson, đã đánh bại hạm đội liên minh của Pháp và Tây Ban Nha.

Nói cách khác, nếu sử dụng bộ bản vẽ này để chế tạo tàu, chúng ta sẽ có được một trong những chiếc tàu chiến buồm tốt nhất trước kỷ nguyên hơi nước – loại tàu có khả năng hoạt động ở vùng biển xa xôi và tham gia vào các trận chiến lớn.

Thứ hai, xét về mọi tiêu chuẩn kỹ thuật, bộ bản vẽ này hoàn toàn có thể được sử dụng để chế tạo tàu vào đầu thời Minh. Không cần phải có công nghệ máy hơi nước – điều này được ghi rõ trên nhãn thông tin của tàu “Victory”. Tàu “Victory” là một chiếc tàu chiến buồm hạng nhất của Hải quân Hoàng gia Anh, được bắt đầu xây dựng vào năm 1759 và hoàn thành vào năm 1765, sử dụng hơn 2000 cây sồi và 38 tấn sắt, với dung tích 2162 tấn, chiều dài 67,8 mét và chiều rộng 15 mét.

Nhìn này, chỉ cần rất nhiều gỗ và “một lượng nhỏ” sắt là đủ để chế tạo nó… Trong thời cổ đại, liệu có thứ gì thân thiện hơn thế không?

Hơn nữa, với dung tích lên đến hơn 2000 tấn, loại tàu chiến này, nếu không kể đến tàu “Valemyr” của Pháp và tàu “Mahmudie” của Thổ Nhĩ Kỳ – những chiếc tàu buồm với dung tích tối đa khoảng 5800 tấn nhưng phải hy sinh một số tính năng để đạt được con số đó – thì nó chắc chắn sẽ là một “gã khổng lồ” trên biển

Hải quân Hoàng gia Anh phân loại các tàu chiến thành từ cấp một đến cấp sáu; việc phân loại này dựa trên số lượng pháo và tải trọng của con tàu để xác định sức mạnh của chúng. Cách phân loại cụ thể có thay đổi theo từng thời kỳ, nhưng nói chung, các tàu thuộc cấp một đến cấp bốn được gọi là tàu chiến đấu, với từ một đến bốn tầng giáp pháo liên tục; trong khi các tàu thuộc cấp năm đến sáu được gọi là tàu tuần dương, với từ một đến hai tầng giáp pháo liên tục hoặc chỉ một tầng giáp pháo không liên tục. Ngoài ra, còn có những con tàu nhỏ hơn không được xếp vào bất kỳ cấp độ nào; những con tàu này chủ yếu được sử dụng cho công tác hộ tống, chống cướp biển và chống các hoạt động buôn bán bất hợp pháp.

Giọng nói của người hướng dẫn vang lên bên tai Chu Hùng Anh, anh ta hỏiMục Kim Nguyệt: “Bản vẽ của tàu ‘Thắng Lợi’ này, ở nước ngoài có loại được vẽ thủ công trước đây không?”

“Tôi sẽ tìm xem.”

Mù Jin Yue sử dụng điện thoại để đăng nhập vào một ứng dụng được tải xuống qua mạng VPN – đó là một nền tảng trao đổi hàng hóa quốc tế.

Sau khi tìm kiếm, cô nói: “Có đấy, bản vẽ này được vẽ thủ công bởi những người yêu thích tàu buồm Anh vào năm 1982, bạn muốn không?”

“Vậy thì mua một bộ đi. Phải mất bao lâu mới giao đến?”

“Nếu gửi bằng đường hàng không thì khoảng ba đến bảy ngày là đến.”

Cảm ơn hệ thống logistics hiện đại!

Bộ bản vẽ thủ công của tàu buồm chiến đấu “Thắng Lợi”, gồm hơn bốn mươi trang, mô tả chi tiết từ cột buồm, các khoang kín nước, tầng giáp pháo cho đến các mặt cắt ngang và dọc của con tàu, với giá cả chỉ vài chục bảng Anh – một mức giá khá rẻ so với chi phí vận chuyển hiện đại. Thực ra, giá này chỉ tương đương với chi phí lao động thủ công thời xa xưa mà thôi.

Dĩ nhiên, lý do chính là vì Chu Hùng Anh muốn những thứ được sản xuất trước đây; nếu nói rằng ngày nay bạn có thể tìm thấy chúng trên mạng thông qua các diễn đàn hay forum và tải về miễn phí, thì cũng đúng. Nhưng dù sao đi nữa, bộ bản vẽ thủ công này sớm muộn cũng sẽ đến tay Chu Hùng Anh. Đối với anh ta lúc này, mức giá này coi như là “tiền không mất”. Nếu ông nội anh ta không cần đến chúng, thì việc lãng phí chúng cũng không khiến anh ta buồn lòng.

Sau khi xem xong phần chính, hai khu triển lãm còn lại chỉ là những cuộc tham quan qua loa mà thôi.

Trong khu triển lãm về tín hiệu, có những đèn tín hiệu và cờ dùng để giao tiếp bằng cờ trên tàu; điều thú vị duy nhất là một thiết bị tương tác mô phỏng việc gửi tín hiệu cứu hộ SOS, và một nh

Sau khi xem xong triển lãm, Chu Hùng Anh đã tìm liên hệ với công ty thiết bị hàng hải Edson của Mỹ để hỏi liệu họ còn những món đồ cổ từ thế kỷ 19 nào không.

Câu trả lời khiến Chu Hùng Anh rất ngạc nhiên: họ thực sự còn rất nhiều, bởi vì trước đây họ đã sản xuất quá nhiều chiếc. Những thiết bị này có độ tin cậy cao và thời gian sử dụng rất lâu; hơn nữa, do công ty có kho chuyên dụng để lưu trữ các thiết bị này nên chi phí bảo quản rất thấp. Vì vậy, chúng chỉ được để lại trong kho mà không được sử dụng. Hiện nay, chủ yếu là những người yêu thích lịch sử hàng hải mới mua chúng về và lắp đặt trên những con tàu tự chế của mình.

Thế là, Chu Hùng Anh đã đặt mua một số loại thiết bị như la bàn hình sáu phần, tủ đựng la bàn từ tính, đồng hồ thiên văn, đồng hồ tàu… những thứ đã trở thành đồ cổ. Sau đó, anh cũng mua thêm một số thiết bị hàng hải khác, giúp công ty Edson thanh lý một lượng lớn hàng tồn kho.

Đây quả là một cuộc giao dịch win-win.

Chuyến tham quan triển lãm hàng hải này cũng đã khơi dậy niềm đam mê hàng hải của Chu Hùng Anh. Anh đã nghiên cứu kỹ lưỡng về lịch sử thời kỳ Đại Hàng Hải, cũng như những câu chuyện về chính sách cấm biển, các cuộc xâm lược của quân xâm lược Nhật Bản và việc mở cửa biển của triều đại Minh. Mặc dù không có chuyên môn nghiên cứu lịch sử, nhưng anh cũng hiểu được phần nào.

Kỹ thuật hàng hải của triều đại Minh, hay nói cách khác là kỹ thuật chế tạo tàu thuyền, không hề lạc hậu. Chỉ là một số điểm kỹ thuật cụ thể không phù hợp cho việc đi biển xa; thậm chí không thể nói rằng những điểm kỹ thuật đó sai lầm, bởi vì những con tàu được chế tạo theo những tiêu chuẩn này vẫn rất mạnh mẽ khi hoạt động trên sông hồ hoặc gần bờ biển, thậm chí có thể đánh bại các con tàu của các quốc gia lân cận.

Điều này được thể hiện rõ qua việc các con tàu của triều đại Minh thường có đầu vuông, đáy phẳng và buồm cứng. Lý do chọn kiểu thiết kế này là để chống lại những con sóng dữ thường xuất hiện gần bờ biển, và đáy phẳng giúp tàu thích nghi tốt hơn với điều kiện vùng sông hồ. Tuy nhiên, thực tế thì các con tàu đáy phẳng không phù hợp để sử dụng ở vùng nước sâu, và diện tích mặt phẳng lớn cũng sẽ ảnh hưởng xấu đến tốc độ di chuyển của tàu.

Về việc buồm cứng hay buồm mềm tốt hơn thì còn tùy vào quan điểm cá nhân. Dù sao thì buồm mềm khó điều khiển hơn nhiều so với buồm cứng, nhưng buồm cứng lại ít tốn sức hơn trong việc sử dụng. Tuy nhiên, nếu so sán

1/1 0%