Chương 404: Những suy nghĩ hoàn toàn khác biệt
Sau khi đọc xong, tôi có rất nhiều điều muốn chia sẻ: việc “Amerikan” trở lại Mặt Trăng, cuộc khủng hoảng chưa từng có xảy ra tại Trạm Vũ trụ Quốc tế, và Trung Quốc đã đứng ra thực hiện các nỗ lực cứu hộ. Việc cứu hộ không chỉ đơn giản là đi và về mà còn yêu cầu phải bay quanh Trạm Vũ trụ Quốc tế nữa. Đồng thời, dự án du lịch trên tàu Thần Cung cũng đã chính thức được mở bán và sẽ bắt đầu hoạt động vào năm tới.
Những sự kiện này diễn ra liên tiếp với tốc độ rất nhanh; mỗi sự kiện riêng lẻ đều đủ để làm thành một video dài để thảo luận kỹ lưỡng. Chỉ riêng việc “Quang Thần” đặt giá cho dự án du lịch trên tàu Quang Giáp là 5 triệu, thì tôi cũng có thể làm một video dài 50 phút để chia sẻ chi tiết với mọi người. Bởi vì con số này thấp hơn nhiều so với dự đoán của tôi – tôi từng ước tính giá sẽ là 50 triệu – và trước đó, khi suy nghĩ về giá cả, tôi đã cố gắng mô phỏng những suy nghĩ của “Quang Thần” khi đưa ra quyết định đó.
5 triệu đối với người bình thường có thể coi là một con số rất cao, nhưng đối với những ai quan tâm đến du lịch vũ trụ, thì đây thực sự không phải là một mức giá quá đắt đỏ. Con số này bao gồm cả chi phí đi lại giữa Trái Đất và trạm vũ trụ, chi phí ăn ở tại trạm, và những vật phẩm lưu niệm sau khi dự án kết thúc cũng mang lại giá trị cảm xúc rất lớn. Những thứ này, sau hàng trăm năm nữa, chắc chắn sẽ trở thành những di sản quý báu trong lịch sử khám phá vũ trụ của loài người.
Việc đặt giá 5 triệu cho dự án này cho thấy rằng những người lớn lao thực sự khác biệt so với nhau. Lô-gic suy nghĩ của “Quang Thần” đã ở một tầm cao hơn nhiều; ông ấy không chỉ nghĩ đến doanh nghiệp hay ngành công nghiệp mà còn đang suy nghĩ về tương lai của loài người. Sau này, tôi sẽ tổ chức một video riêng để chia sẻ chi tiết hơn với mọi người.
Hôm nay, tôi muốn chọn một góc độ khác biệt để thảo luận, hy vọng nó sẽ mang lại cho mọi người những góc nhìn mới mẻ.
Vào buổi tối hôm đó, một blogger trên Bilibili chuyên sản xuất các video về chính trị địa lý đã tổ chức một buổi livestream. Nội dung các video của anh ta khá sâu sắc, và trước đây, anh ta đã dự đoán chính xác nhiều sự kiện lớn. Khác với các chương trình talkshow về chính trị địa lý thông thường, số lượng fan của anh ta trên Bilibili không quá đông – chỉ khoảng vài trăm nghìn người – nhưng tất cả họ đều là những người hâm mộ trung thành.
Ngay khi buổi livestream bắt đầu, hàng ngàn người hâm mộ háo hức đã đổ xô vào phòng chat. Trên Bilibili, số lượng
Sau khi Anh trở thành đế chế Mặt Trời không bao giờ lặn, Đức, Mỹ và Nhật Bản đều đã cố gắng thay đổi hệ thống thế giới với trung tâm là Anh-Mỹ theo những cách khác nhau. Trong đó, Đức sử dụng chiến tranh, Mỹ dùng hệ thống chính sách, còn Nhật Bản thì dựa vào kinh tế. Rõ ràng, cả ba nước này đều thất bại. Cần nói thêm rằng, Thỏa thuận Quảng trường chính là nguyên nhân chính dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế của Nhật Bản, nhưng họ vẫn thu được điều gì đó, không phải chỉ thiệt hại mà thôi. Về mặt kinh tế, Nhật Bản tổn thất nặng nề, nhưng lại thu được lợi ích trong lĩnh vực xuất khẩu văn hóa. Nói cách khác, lý do khiến Nhật Bản có thể vượt trội hơn nhiều so với Cao Lệ trong lĩnh vực xuất khẩu văn hóa thực ra bắt nguồn từ Thỏa thuận Quảng trường mà họ ký kết với Mỹ vào năm 1985. Tôi biết điều này có vẻ trái với trực giác, nhưng đó chính là sự thật. Đừng bàn về K-pop hay việc xuất khẩu văn hóa của Cao Lệ hay các thần tượng của họ trở nên nổi tiếng trên toàn cầu… Xuất khẩu văn hóa của Cao Lệ là loại xuất khẩu vô hiệu, là loại xuất khẩu chỉ nằm trên bề mặt mà thiếu đi nội dung sâu sắc. Lấy ví dụ đơn giản, Trung Quốc có thể xuất khẩu rất nhiều thương hiệu hàng tiêu dùng sang Đông Nam Á, thậm chí là toàn cầu – như Haidilao, Mì Xue, Hi Tea, v.v. Trong khi đó, Nhật Bản có các thương hiệu như 7-Eleven, Uniqlo, Muji, v.v. Vậy thì Cao Lệ có cái gì? Ngay cả trong thời kỳ cao trào của văn hóa đại chúng, họ cũng không thể xuất khẩu được một thương hiệu hàng tiêu dùng nào có đủ uy tín. Trước những năm 1980, tình hình của Nhật Bản cũng tương tự, nhưng nhờ vào Thỏa thuận Quảng trường, văn hóa Nhật Bản mới bắt đầu được xuất khẩu ra nước ngoài. Thỏa thuận Quảng trường đã phá hủy nền kinh tế của Nhật Bản, nhưng lại giúp văn hóa Nhật Bản lan rộng rộng rãi trên toàn cầu. Lý do là bởi vì thỏa thuận đó khiến yên tệ tăng giá trị, trong khi đô la Mỹ giảm giá trị; nền kinh tế Nhật Bản không phải lập tức sụp đổ sau khi ký thỏa thuận, mà là trải qua một quá trình suy thoái chậm rãi trong thời gian dài. Trong giai đoạn ngay sau khi ký thỏa thuận, nhờ vào việc yên tệ tăng giá trị, nhu cầu nội địa của Nhật Bản trở nên rất mạnh mẽ. Nhu cầu này đã thúc đẩy các công ty trên toàn thế giới phải thiết kế sản phẩm phù hợp với thị trường Nhật Bản và sở thích của người dân Nhật Bản. Khi sản phẩm trở thành phương tiện truyền bá văn hóa, văn hóa mới có thể lan rộng lâu dài và tạo ra sức ảnh hưởng đáng kể.
Cao Lệ Chính vì thiếu đi nền tảng sản xuất hàng hóa cần thiết mà các sản phẩm đó không thể có được “lõi cốt” vững chắc.
Theo tôi, trường hợp tiêu biểu nhất trong lĩnh vực này chính là ngành ô tô. Mọi người đều biết rằng xe hơi Nhật Bản từng giữ vị trí thống trị trên toàn thế giới, và vị thế đó còn vững chắc hơn cả xe Đức.
Ngày nay, khi nhìn vào thị trường xe điện, chúng ta thấy liên tục có những mẫu xe mới được ra mắt, với những thiết kế tuyệt vời và công nghệ hiện đại, khiến mọi người rất hứng thú. Các phương tiện truyền thông và nhà sản xuất nước ngoài cũng ngày càng quan tâm đến những mẫu xe mới của Trung Quốc.
Cảnh tượng này cũng đã diễn ra nhiều lần sau khi Hiệp định Thái bình Dương được ký kết.
Trong giai đoạn đó, những chiếc xe thể thao Nhật Bản đã trở nên rất phổ biến trên toàn thế giới và thu hút ngày càng nhiều người sưu tầm xe hơi.
Nhờ vào Hiệp định Thái bình Dương – vốn được đưa ra với mục đích khắc phục khoản thặng dư thương mại giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ – đồng yên đã tăng giá so với đô la Mỹ, và trong bối cảnh lãi suất thấp do Ngân hàng Trung ương Nhật Bản đặt ra, nền kinh tế bong bóng đã phát triển nhanh chóng. Điều này khiến nhu cầu nội địa của Nhật Bản tăng lên một cách chưa từng có.
Trong bối cảnh lịch sử đó, các nhà sản xuất ô tô Nhật Bản, với nguồn vốn ngày càng tăng, đã phát triển ra rất nhiều mẫu xe thể thao khác nhau. Toàn bộ thập niên 90 chính là thời kỳ hoàng kim của ngành ô tô Nhật Bản; vào thời điểm đó, các thương hiệu xe Nhật Bản được coi ngang hàng với Porsche trên toàn thế giới, nhưng giá cả lại rẻ hơn nhiều.
Có lẽ bạn đang nghĩ đến ngành ô tô của Trung Quốc phải không?
Năm 1988, Nissan đã ra mắt Silvia và Cima; năm 1989, họ tiếp tục giới thiệu Fairlady Z và Skyline GT-R. Cho đến ngày nay, GTR vẫn là một trong những mẫu xe mơ ước của nhiều người.
Toyota, Nissan, Honda… vào thời điểm đó, họ thực sự rất tích cực trong việc phát triển sản phẩm; một mẫu xe có thể duy trì nguyên trạng trong suốt mười năm mà không cần được cập nhật. Điều này hoàn toàn khác với tình hình hiện nay của các nhà sản xuất ô tô Trung Quốc.
Các công ty ô tô Nhật Bản vào thời điểm đó, giống như các công ty ô tô Trung Quốc ngày nay, đều ra mắt nhiều mẫu xe mới mỗi năm, và tất cả chúng đều rất thành công.
Khi hàng hóa trong nước được xuất khẩu ra nước ngoài, hoặc khi hàng hóa nhập khẩu được thiết kế và sản xuất dựa trên sở thích và văn hóa của người tiêu dùng nước đó, văn hóa sẽ trở nên có ảnh hưởng lớn hơn trong quá trình đó. Vì vậy, Hiệp định Thái bình Dương đã giúp Nhật Bản mở rộng ảnh h
Trước đây, họ đã nghĩ ra rất nhiều cách để ngăn chặn sự mở rộng này, nhưng tại sao lại không thành công?
Tôi đã từng nói trong một video trước đây rằng, cách đây 22 năm, suy nghĩ của nhiều người là chúng ta là các quốc gia sản xuất, còn họ là các quốc gia tiêu dùng.
Nếu các quốc gia tiêu dùng tự mình tìm những quốc gia khác để xây dựng lại một hệ thống thương mại mới, và tìm những quốc gia khác thay thế vị trí của chúng ta như các quốc gia sản xuất, thì chúng ta sẽ gặp rất nhiều rắc rối phải không?
Chính vì lý luận suy nghĩ như vậy mà mới có cái lập luận đáng ghét “bây giờ là thời điểm tốt nhất để đầu hàng”.
Trước hết, không cần bàn về việc lý luận này hoàn toàn vô lý; họ sẽ phải chịu đựng chi phí lớn trong việc xây dựng lại chuỗi cung ứng, phải chịu đựng tình trạng lạm phát do việc chuyển đổi chuỗi cung ứng, và cần phải có sự đoàn kết chặt chẽ của tất cả các quốc gia tiêu dùng – bất kể ai giành được quyền lực cũng phải kiên định ủng hộ mục tiêu chiến lược này.
Ngay cả khi họ thực sự có thể làm được điều đó…
Dù họ thực sự có thể làm được, nhưng tổng dân số của những quốc gia tiêu dùng này chỉ khoảng 1 tỷ người, trong khi toàn cầu có tới 8 tỷ người. Diện tích đất đai của họ chỉ chiếm khoảng 21% tổng diện tích đất đai toàn cầu; họ mới là thiểu số.
Tất nhiên, sẽ có người cho rằng chính những quốc gia tiêu dùng này mới là nguồn cung cấp sức mua chính; sức mua của 1 tỷ người này vượt xa so với 7 tỷ người còn lại; họ mới là động lực chính trong hoạt động tiêu dùng, và hơn 70% đơn hàng thương mại trên toàn cầu đến từ thị trường tiêu dùng của họ.
Đúng vậy, nhưng hiện nay, năng lực sản xuất đã phát triển đến mức nào rồi… Năng lực sản xuất của Trung Quốc đủ để thay đổi thế giới mà 7 tỷ người còn lại đang sinh sống; ngay cả khi các mối quan hệ sản xuất và cấu trúc sản xuất không thay đổi, chúng ta vẫn có thể thay đổi thế giới này.
Không sai chút nào… Hãy xem thử nhé!
Đây cũng chính là lý do tại sao Trung Quốc luôn không lo lắng gì cả; Trung Quốc mong muốn hòa bình và tiến hành chiến lược này một cách từ từ.
Vì vậy, xu hướng hiện nay là Trung Quốc đang sử dụng lợi thế về năng lực sản xuất để thay đổi thế giới; mọi cuộc tấn công trong các lĩnh vực khác về cơ bản đều dựa vào năng lực sản xuất.
Mối liên kết giữa Anh, Mỹ, Úc, Phong Diệp Quốc và New Zealand nghiêm túc hơn nhiều so với những gì mọi người nghĩ.
Và trong quá khứ, bạn có thể thấy rằng tốc độ thay đổi ngày càng nhanh hơn.
Càng ngày càng nhiều quốc gia ở châu Á, Phi và Mỹ Latinh nhận ra rằng họ không
Việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua cơ sở hạ tầng giúp mở rộng nhu cầu trong nước; sau khi nhu cầu trong nước được tăng lên, họ lại tiếp tục mua hàng hóa từ Trung Quốc, trong khi họ thì xuất khẩu các nguồn tài nguyên của mình.
Mô hình hoạt động này đang phát triển ngày càng nhanh chóng nhờ vào việc các dự án mẫu như ở Campuchia, Lào, Peru được triển khai thành công. Thậm chí, các quốc gia Châu Âu cũng bắt đầu tìm đến chúng ta để thực hiện các dự án cơ sở hạ tầng.
Phải chăng nước Mỹ và những đồng minh thân cận của họ không hề lo lắng sao? Họ có thật sự tin rằng lợi thế về thời gian thuộc về họ không?
Cần phải biết rằng, sự lan rộng của công nghệ trên toàn cầu sẽ làm tăng năng suất sản xuất và thu hẹp khoảng cách về công nghệ, điều này chỉ khiến lợi thế của nhóm người 1 tỷ người này ngày càng giảm đi.
Đây là một xu hướng kéo dài suốt 20 năm.
Tôi luôn ngưỡng mộ cách phân loại các nền văn minh theo mức độ sử dụng năng lượng mà Kardashev đã đề xuất. Ông cho rằng chúng ta có thể phân loại các nền văn minh trong vũ trụ thành ba cấp độ, dựa trên khả năng thu nhận và tiêu thụ năng lượng của chúng:
Cấp độ đầu tiên là những nền văn minh có thể kiểm soát và sử dụng toàn bộ nguồn năng lượng trên hành tinh của mình và các vệ tinh xung quanh. Khi chúng ta có thể sử dụng nguồn tài nguyên trên Mặt Trăng, đó chính là dấu hiệu chúng ta đã bước vào hàng ngũ này.
Cấp độ thứ hai là những nền văn minh có thể thu thập năng lượng từ toàn bộ hệ mặt trời của mình, tức là có thể sử dụng triệt để năng lượng từ Mặt Trời.
Cấp độ thứ ba là những nền văn minh có thể sử dụng năng lượng từ toàn bộ hệ Ngân Hà.
Các con số như GDP, tiền tệ, tổng kim ngạch thương mại đều có thể thay đổi theo biến động tài chính. Theo tôi, lượng điện tiêu thụ chính là yếu tố phản ánh rõ ràng điều này.
Theo ước tính của Bộ Phát triển Bền vững và Các Vấn đề Kinh tế Xã hội Liên Hợp Quốc, trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2017, lượng điện tiêu thụ bình quân đầu người ở nước Mỹ đã giảm khoảng 7%. Con số này được tính riêng cho mục đích cá nhân, không bao gồm lượng điện tiêu thụ trong sản xuất công nghiệp.
Phải chăng người Mỹ không thích sử dụng thiết bị điện tử? Nếu so sánh với các quốc gia thuộc thế giới thứ ba, lượng điện tiêu thụ bình quân đầu người ở những nước này lại tăng gấp đôi.
Đơn vị đo lường điện là giống nhau; không thể gian lận bằng các thủ thuật tỷ giá hay công cụ tài chính. Điều này phản ánh rằng cấu trúc sản xuất đang thay đổi nhanh chóng do sự lan rộng của công nghệ.
Dù ai quyết định đưa ngành công nghiệp sản xuất tr
Dù họ thực sự làm được điều đó, họ cũng chỉ khiến phần thị trường còn lại rơi vào tay Trung Quốc mà thôi; đối với Trung Quốc, thương vụ này chính là một cơ hội kiếm lợi nhuận khổng lồ. Vì vậy, họ sẽ không làm như vậy đâu.
Trước đây, Mỹ từng nghĩ đến việc dựa vào sự tiên phong về công nghệ, dựa vào trí tuệ nhân tạo để tạo ra bước ngoặt công nghệ và từ đó tái lập vị thế dẫn đầu về năng suất sản xuất. Để đạt được mục tiêu chiến lược này, họ sẵn sàng hy sinh ngay cả việc giảm bớt các ràng buộc đối với công nghệ chip của Trung Quốc. Trước đây, các đồng minh tin rằng Mỹ có thể làm được điều đó, vì vậy họ đã kiểm soát chặt chẽ mối quan hệ và sự hợp tác với Trung Quốc.
Nhưng sau khi Trung Quốc cho thấy sức mạnh của mình lần này, liệu các đồng minh còn tin rằng Mỹ có thể làm được không? Liệu họ thực sự còn kiên định đến thế không? Tôi muốn đặt một dấu hỏi lớn trước tất cả những điều này.
Đối với họ, kết quả tồi tệ nhất có thể xảy ra là Trung Quốc sẽ đạt được bước tiến trước, và việc dẫn đầu về năng suất sản xuất sẽ trở thành điều không thể đảo ngược; thậm chí Trung Quốc có thể sẽ không còn muốn hợp tác với họ nữa.
Bằng cách tận dụng nguồn lực từ Mặt Trăng, các tiểu hành tinh và công nghệ trí tuệ nhân tạo để mở rộng năng suất sản xuất, Trung Quốc có thể sử dụng Đông Nam Á làm bàn đạp để thiết lập một tổ chức mới thay thế WTO. Ban đầu, họ có thể thu hút các nước Đông Bắc Á tham gia, sau đó từ từ mở rộng và cho phép các quốc gia mới gia nhập.
Vì vậy, sau khi xem buổi phát sóng trực tiếp này, tôi nhận ra rằng Trung Quốc sẽ triển khai các chính sách hỗ trợ một cách toàn diện và nhanh chóng hơn, với tỷ lệ sử dụng nguồn lực cao hơn nhiều so với trước đây. Trước đây, khi chúng ta xuất khẩu khả năng xây dựng cơ sở hạ tầng để đổi lấy khoáng sản, chúng ta vẫn phải đối mặt với nhiều rủi ro tiềm ẩn; có thể chúng ta chỉ thu về được một nửa số tiền đã đầu tư (ví dụ: xuất khẩu cơ sở hạ tầng trị giá 100 tỷ nhân dân tệ nhưng chỉ thu về được 50 tỷ). Nhưng trong tương lai, con số đó có thể lên tới 1 nghìn tỷ, và chúng ta có thể thu về được tới 800 tỷ.
Đề xuất được đưa ra cách đây 13 năm sẽ được thực hiện với tốc độ chưa từng có vào năm 2027. Những lo ngại trước đây về vấn đề năng lực sản xuất hay rủi ro đầu tư sẽ không còn là vấn đề nữa. Lần này, thời đại vàng thực sự sẽ đến; những lợi ích từ công nghệ mà trước đây chỉ một số ngành được hưởng, lần này sẽ mang lại lợi ích cho tất c
Chưa có truyện phù hợp.