lore

Chương 315: Bức ảnh của ngài trên bàn thờ nến

7,275 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Vào buổi sáng ngày 17 tháng Chín, một đội lớn sứ giả đã xuất phát từ Hỏa Diễn Thánh Đường và lao về các chi nhánh ở miền Bắc. Sau cuộc họp Hồi đồng Các Giám mục lần thứ 22, sáu vị Đại giám mục Lửa đã cùng nhau công bố tuyên bố: Đại giám mục trưởng ông Pelak đã gặp tai nạn trong khi thực hiện nghi thức cầu nguyện Lửa; trước khi qua đời, ông đã dùng sự quyết tâm mãnh liệt để tự chặt đầu mình, nhằm cảnh báo các tu sĩ trẻ rằng họ phải luôn coi chừng ngọn lửa luôn tồn tại xung quanh mình, và không được để sự lơ là hay tự tin thái quá dẫn đến sự sa đọa.

Ngày 18, bức thư chia buồn do Nữ hoàng Vĩnh hằng Maryka, Vua của Ngải Nhĩ Đăng là Radagon và Hoàng tử Vàng Cát Đức Văn cùng ký đã được gửi đến Nhà thờ Thánh. Sứ giả được cử đi từ thủ đô – công tước Harvey, một trong những nhân vật cấp cao của phe cũ – đã tham gia trực tiếp vào lễ tang quốc gia này với sự ủy quyền của Thần và Vua.

Đồng thời, Nhà thờ Thánh đã yêu cầu các thợ thủ công tài ba khắc họa lại khuôn mặt của Đại giám mục trưởng vào một cái đèn nến; trên đó, ngọn lửa đại diện cho niềm tin của sáu vị Đại giám mục đang cháy sáng, được coi là vật thiêng quý nhất của Nhà thờ Thánh và sẽ được truyền lại từ đời này sang đời khác nhằm cảnh báo các thế hệ sau.

Tuy nhiên, thông tin thực sự liên quan đến nguyên nhân cái chết của Pelak – “ngòi nổ” của sự việc này – chỉ được giữ bí mật giữa sáu vị Đại giám mục; ngay cả công tước Harvey cũng như người theo dõi ở xa xôi như Agonti cũng không biết được bí mật đó.

Một loại sức mạnh kỳ lạ có thể tăng cường đáng kể sức mạnh tinh thần và thể chất của các tu sĩ Lửa, biến họ thành những “người khổng lồ Lửa”, rõ ràng càng ít người biết về nó thì càng an toàn, nhất là trong bối cảnh mọi người đều chưa hiểu rõ về bản chất của loại sức mạnh này.

Sáu vị Đại giám mục đã thống nhất rằng Hyron sẽ tạm thời đảm nhận công việc quản lý nội bộ của Nhà thờ Thánh; Doanh Ngọc sẽ đóng quân ở khu vực phía Đông để theo dõi chặt chẽ mọi hoạt động bất thường xung quanh nghĩa trang của những “người khổng lồ Lửa”; còn bốn vị Đại giám mục khác thì trở về các lãnh địa của mình để tiến hành điều tra bí mật về “ngòi nổ” này.

Mặt khác, đối với việc 15 bộ lạc của Samir tuyên chiến toàn diện với Hỏa Diễn Thánh Đường và Tòa lãnh đạo phòng thủ miền Bắc, Hyron một lần nữa bỏ qua mọi ý kiến khác biệt và quyết định tạm thời không triển khai quân đội. Ông sẽ liên lạc với Nam tước Osarion. O’Neal, người đứng đầu lực lượng phòng thủ miền Bắc, và các thủ lĩnh của các bộ lạc

Ngày 20, mười lăm bộ tộc của người Samir đã tổ chức cuộc họp liên minh. Sau những cuộc tranh cãi gay gắt, đề xuất đàm phán với loài người đã được thông qua với tỷ lệ 8 phiếu thuận so với 7 phiếu chống.

Tuy nhiên, người Samir cũng đưa ra một yêu cầu: địa điểm đàm phán sẽ được thay đổi từ thành phố Sehwenia sang Hồ Băng Giá, và cuộc đàm phán sẽ diễn ra dưới sự chứng kiến của thần rồng băng Bolerius.

Ngày 22, Đền Thờ và Tổng quân đoàn biên giới phía Bắc đã đồng ý với yêu cầu này. Cả ba bên đã thỏa thuận gặp nhau sau ba ngày nữa. Phía loài người sẽ có Hylon và Orsion đại diện tham gia, trong khi phía Samir sẽ cử các thủ lĩnh của hai bộ tộc Albert và Augustin cùng với vị thủ lĩnh mới do người dân còn sống sót của bộ tộc Kurros bầu ra để tiến hành đàm phán.

Vì Hồ Băng Giá cách khá xa lãnh thổ truyền thống của người Samir và cũng nằm ngoài phạm vi kiểm soát của Đền Thờ cũng như Tổng quân đoàn biên giới phía Bắc, nên vào thời điểm cả hai bên đều đang trong tình trạng căng thẳng cao, cả hai bên đều rất coi trọng công tác bảo vệ an ninh.

Phía người Samir mang theo 1.000 binh sĩ tinh nhuệ và 300 hiệp sĩ Samir; phía Đền Thờ do Hylon đại diện chỉ mang theo khoảng 100 lính canh một cách mang tính biểu tượng. Nhưng ngược lại, vị lãnh đạo Tổng quân đoàn biên giới phía Bắc – Nam tước Orsion – thì hoàn toàn khác: khi rời khỏi tổng quân đoàn, ông ta gần như đã huy động toàn bộ lực lượng vệ binh trực thuộc khu vực xung quanh, và cùng với 5.000 kỵ binh, ông ta tiến về phía Hồ Băng Giá một cách hùng hậu.

Trong chốc lát, đội quân của loài người ở phía Bắc, còn đội quân của người Samir ở phía Nam; hai đội quân như hai con rồng đen u ám lao qua những cánh đồng tuyết bao la, tạo nên những làn sương tuyết mù mịt. Dù được gọi là đàm phán, nhưng bầu không khí giữa hai bên vẫn rất căng thẳng.

Trên một ngọn đồi tuyết hoang vu, một người đàn ông đội mũ len màu đỏ tối, đeo hai thanh kiếm dài ở thắt lưng, nhìn chằm chằm vào đội quân đang di chuyển phía xa. Sau một lúc, ông ta nhảy xuống từ ngọn đồi và phóng một cơn gió mạnh để xóa sạch dấu vết phía sau mình.

Ông ta chạy nhanh dọc theo một con sông đóng băng giữa các ngọn đồi; thân hình cao lớn, mạnh mẽ của ông ta di chuyển nhanh đến mức giống như một bóng ma mơ hồ, và trong chốc lát đã vượt qua khoảng cách hàng nghìn mét, đến trước một ngọn đồi thấp.

Người đàn ông vẫy tay để quét đi những dây leo và cỏ khô che khuất miệng hang, sau đó đẩy một tảng đá nặng gần nửa tấn sang một bên và cúi người bướ

“Cảm ơn ngài đã kịp thời sử dụng sức mạnh thần linh để bảo vệ xương cốt và mạch máu của cô ấy; cùng với lời cầu nguyện chữa lành mà ông Gontia đã thực hiện trước đó, cuối cùng cô ấy cũng thoát được cái chết… Chỉ là chiếc chân này…”

Kulalys nhẹ nhàng vuốt ve khuôn mặt nhỏ bé của em gái mình – vẫn đang nhăn mày vì đau đớn trong giấc ngủ – ánh mắt cô lộ ra vẻ buồn bã, nhưng rồi cô chỉ thở dài một hơi nhẹ.

“Xin lỗi,” Orleg cúi đầu nói, “Chữa thương cứu người không phải là điều tôi giỏi… Hơn nữa, loại phép thuật tái sinh chi từng chi như thế này, ngay cả trong số những người tôi quen biết, cũng rất ít ai có thể làm được. Sau này, tôi chắc chắn sẽ tìm mọi cơ hội có thể chữa lành vết thương cho đứa bé này.”

“Xin đừng nói vậy!” Kulalys vội vàng lắc đầu, “Việc có thể sống sót sau một cơn ác mộng như vậy đã là điều may mắn lớn lao đối với chúng tôi rồi… Nếu không có ngài, bây giờ chúng tôi và ông Gontia chắc hẳn đã trở thành những bộ xương khô để loài chó hoang ăn thịt rồi!”

Sau vài ngày, Kulalys vẫn nhớ rõ: Ông Gontia – hay là người đàn ông mà mọi người gọi là ông Adam – đã dùng hết sức lực và ý chí cuối cùng để bảo vệ họ và đưa họ đi xa. Khi cô tỉnh lại, em gái mình đã ngất đi vì mất quá nhiều máu; còn ông Gontia thì toàn thân đầy những vết thương ghê tởm, tuyết và mảnh băng đã phủ kín một nửa cơ thể ông… Với sức lực cuối cùng, ông đã ôm họ vào lòng và dùng hơi ấm còn sót lại trên ngực mình để che chở họ khỏi bão tuyết.

Nhưng dù bão tuyết có thể được ngăn chặn, thì loài thú dữ thì không… Những đôi mắt đỏ rực cùng tiếng gầm rú thấp thoáng đã xuất hiện từ phía xa, và trong chốc lát, chúng đã bao vây ba người họ. Kulalys cố gắng vùng vẫy để thoát khỏi vòng tay của ông Gontia, rồi rút thanh kiếm ngắn Long Thích ra để chống lại đám sói… Lúc này, cô gái đã kiên nhẫn đến tận lúc này chỉ để bảo vệ em gái mình cuối cùng cũng không thể kìm nén nổi nước mắt tuyệt vọng.

Tại sao họ lại bị đối xử tàn nhẫn như vậy, khi họ chẳng hề làm gì sai cả? Tại sao họ lại phải chết trong bóng tối trước khi đêm kết thúc, khi họ vừa mới thoát khỏi địa ngục?

Nhưng lần này, khi các vị thần đang lạnh lùng đứng nhìn, cuối cùng cũng có người đã đáp lại lời cầu nguyện của cô. Ánh sáng lấp lánh của thanh kiếm thập tự đã xua tan tất cả những con thú dữ đó… Khi cô mở to đôi mắt không thể tin nổi và nhìn về phía người đàn ông đang cất thanh kiếm vào v

1/1 0%