lore

Chương 436: Tái cân bằng sức mạnh lớn

15,858 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Đằng sau những điều này là yếu tố công nghệ, nhưng quan trọng hơn cả là các yếu tố địa lý.

Nếu Nga muốn hỗ trợ Bắc Việt, họ buộc phải đi qua bờ biển của Quốc gia Hoa.

Nếu muốn điều xe binh tham gia chiến đấu, thì càng phải dựa vào khu vực bờ biển đông nam của Quốc gia Hoa.

Nếu chọn con đường hàng hải Thái Bình Dương, xuất phát từ Vladivostok ở Đông Bắc Á – nơi đây là căn cứ chính của Hạm đội Thái Bình Dương Nga – hạm đội sẽ di chuyển về phía nam, qua Biển Ngân Hà, đi qua eo biển Tsushima giữa bán đảo Cao Lý và Biển Ngân Hà, rồi tiến vào Biển Đông và cuối cùng đến An Nam.

Con đường này ngắn nhất, có thể tránh được các căn cứ quân sự của NATO ở Châu Âu và Đại Tây Dương, đồng thời không cần phải đi qua các tuyến đường thủy phức tạp ở Trung Đông.

Tuy nhiên, ngay cả khi vậy, toàn bộ hành trình vẫn nằm trong tầm theo dõi của Hạm đội 7 của Mỹ; hạm đội sẽ đi qua các đồng minh của Mỹ ở châu Á: Biển Ngân Hà và vùng biển gần bán đảo Cao Lý.

Bất kỳ hoạt động quân sự quy mô lớn nào cũng sẽ ngay lập tức bị phát hiện và có thể dẫn đến việc Hải quân Mỹ can thiệp, từ đó gây ra xung đột trực tiếp.

Hoặc có thể chọn con đường Đại Tây Dương – Ấn Độ Dương, xuất phát từ các cảng của Nga ở Biển Baltic, như Leningrad hoặc các cảng ở Biển Đen. Hạm đội sẽ phải đi qua Bắc Băng Dương và Đại Tây Dương, sau đó vòng qua Mũi Hảo Vọng ở phía nam châu Phi, tiến vào Ấn Độ Dương, rồi đi qua Eo biển Malacca hoặc Eo biển Sunda để vào Biển Đông và cuối cùng đến An Nam.

Con đường này vô cùng dài, và hầu hết đoạn đường đều nằm trong tầm kiểm soát của NATO.

Điều tồi tệ hơn nữa là, nếu xuất phát từ Biển Đen, họ còn phải đi qua Eo biển Bosphorus do Thổ Nhĩ Kỳ kiểm soát.

Vì vậy, Nga chỉ có thể hàn gắn lại quan hệ với Quốc gia Hoa, sau đó đi theo các cảng ven biển phía đông của Quốc gia Hoa xuống phía nam, vào Biển Đông và cuối cùng đến An Nam.

Con đường này hoàn toàn nằm dưới sự bảo vệ của Hải quân và Không quân Quốc gia Hoa, đồng thời có thể tiến hành việc tiếp tế trực tiếp tại các cảng ven biển.

Đây mới là cách thức trực tiếp nhất.

Nếu sử dụng phương thức vận chuyển hàng không, các đội bay vận tải của Nga sẽ xuất phát từ các căn cứ ở Siberia, phải bay qua không phận của Quốc gia Hoa và vẫn cần phải nhận được sự cho phép của Quốc gia Hoa.

Ở hai bên bàn họp, có sự hiện diện của Leonard của Nga cùng các ủy viên khác.

Trên bàn trước mặt họ, đặt có một chiến lợi phẩm đến từ phía bên kia đại dương.

Đó là một cái hộp kim loại nặng nề, không hề có bất kỳ dấu hiệu gì trên bề mặt, chỉ có một màn hình nhỏ hiển thị các con số màu xanh lá.

“Đây là thứ chúng ta đã thu giữ được từ quân đội Mỹ,” Gretchko, Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô, nói với giọng trầm ngâm, anh ta gõ nhẹ vào chiếc hộp và tiếp tục: “Các chuyên gia kỹ thuật của chúng tôi đã phân tích và nhận ra rằng đây là một hệ thống định vị hoàn toàn mới; người Mỹ gọi nó là GPS.”

“Hệ thống này do các nhà khoa học phát triển, và nó cho phép người sử dụng xác định vị trí mình ở bất cứ đâu trên Trái Đất với độ chính xác lên đến mười mét.”

Thông tin này khiến không khí trong phòng họp trở nên yên tĩnh.

“Điều này có ý nghĩa gì?” Leonard hỏi.

“Nó có nghĩa là những đồng chí của chúng ta ở Bắc Việt sẽ phải đối mặt với một cuộc chiến không cân đối,” Andropov nói từ từ: “Trước đây, các cuộc tấn công trên không và hỗ trợ bằng pháo binh của người Mỹ đều mang tính bất ổn. Nhưng bây giờ, với thứ này, họ có thể tiến hành các cuộc tấn công một cách chính xác và hiệu quả.”

“Điều này cũng có nghĩa là các hệ thống phòng không và pháo cao xạ mà chúng ta cung cấp cho Bắc Việt sẽ không còn hiệu quả như trước nữa.”

“Thực tế đã chứng minh tất cả: trước đây, quân đội Mỹ bị mắc kẹt trong bùn lầy; nhưng bây giờ, họ đã thoát khỏi tình trạng đó. Thứ này giống như một thiết bị làm cho bùn lầy đông cứng thành băng giá; xe tăng của Mỹ sẽ không còn bị mắc kẹt nữa, mà chỉ cần gắn các bánh xe chống trơn là có thể di chuyển qua lớp băng giá để đến đích mong muốn.”

“Những đồng chí của chúng ta ở Bắc Việt đang đối mặt với một tình huống vô cùng khó khăn.”

“Theo dữ liệu từ tiền tuyến, trước đây, tỷ lệ thương vong giữa quân đội Mỹ và các đồng minh của chúng ta là khoảng 1 so với 10, thường dao động quanh con số 8. Cứ mỗi 8 binh sĩ Bắc Việt thiệt mạng, thì có 1 binh sĩ Mỹ chết.”

“Nhưng bây giờ, con số đó đã tăng lên đến mức 1 so với 50.”

Tất cả mọi người đều thở dài.

Mọi người có mặt ở đây đều hiểu rằng, nếu Mỹ giành được ưu thế áp đảo ở An Nam, điều đó sẽ là một đòn giáng nặng nề vào chiến lược toàn cầu của họ. Họ sẽ không còn bất kỳ lý do nào để can thiệp vào toàn bộ khu vực Châu Á nữa.

Quốc gia Hoa chắc chắn không thể trở thành công cụ hữu ích cho họ được.

Và còn có Mông Cổ, Bắc Cao Lý, Syria… Ba quốc gia này có thể được coi là những công cụ h

Đối với Nga-Xô tự xưng là “đại quốc hai đầu óc”, điều này thực sự rất nguy hiểm.

“Hai đầu óc” ở đây có nghĩa là họ tự cho mình là một cường quốc bao trùm cả châu Âu và châu Á, và cần phải có tầm ảnh hưởng lớn ở cả hai khu vực này.

“Chúng ta không thể đứng nhìn mà không làm gì,” một ủy viên nói với giọng hào hứng, “chúng ta nên trực tiếp điều quân để giúp đỡ các đồng minh của mình!”

“Không,” Gretchko lập tức phản bác, “việc điều quân trực tiếp sẽ dẫn đến cuộc chiến tranh toàn diện với Ame-ri-ca, và đó sẽ là một thảm họa không thể kiểm soát được. Chúng ta không thể vì Việt Nam mà kéo cả liên minh vào vực thẳm.”

“Chúng ta có thể sử dụng lực lượng lính đánh thuê,” ủy viên đó tiếp tục giải thích.

Gretchko lại lắc đầu: “Không, chúng ta không thể làm được. Chúng ta cách Bắc Việt quá xa; quân đội của chúng ta không thể được điều động đến Bắc Việt, trừ khi Quốc gia Hoa cho phép chúng ta sử dụng không phận hoặc đường sắt của họ. Trong tình hình hiện tại, điều này rõ ràng là không khả thi.”

“Vậy thì, chúng ta nên làm gì?” Leonhard nhìn về phía Andropov; ông biết rằng trong đầu vị đầu đạo KGB này luôn chứa đầy những ý tưởng táo bạo nhưng cũng đầy rủi ro.

Andropov từ từ nói: “Chúng ta có một số lựa chọn. Thứ nhất, chúng ta có thể thử sao chép hệ thống đó, nhưng điều này cần thời gian, và chúng ta không có mạng lưới vệ tinh của Ame-ri-ca. Thứ hai, chúng ta có thể cung cấp thêm vũ khí cho Bắc Việt, nhưng điều này không thể giải quyết vấn đề cơ bản. Điều chúng ta cần là một phương pháp có thể triệt tiêu lợi thế công nghệ của Ame-ri-ca.”

“Các đồng chí, các bạn có biết hàng năm chúng ta phải chi bao nhiêu ngân sách ngoại tệ cho các sản phẩm của Quốc gia Hoa không? Năm nay, con số đó chắc chắn sẽ vượt qua 1 tỷ đô la Mỹ. Nếu tính cả các đồng minh của chúng ta ở Đông Âu và các đối tác trong phe Tự do, thì hàng năm chúng ta phải chi hơn 1,5 tỷ đô la Mỹ cho các sản phẩm của Quốc gia Hoa. Các cửa hàng của chúng ta đều chất đầy radio, máy tính và tivi sản xuất bởi Quốc gia Hoa. Những sản phẩm điện tử do chúng ta tự sản xuất chỉ có thể được bán ở những góc khuất nhất, và chỉ có thể được xuất khẩu sang Siberia. Các viện nghiên cứu của chúng ta cũng chỉ yêu cầu sử dụng máy tính của Quốc gia Hoa – dù là máy tính xách tay hay máy tính lớn, họ đều chỉ chọn các thương hiệu Panda hoặc Deep Red.”

Từ năm ngoái trở đi, lượng dự trữ ngoại tệ mà chúng ta tiêu hao cho Quốc gia Hoa đã lần đầu tiên vượt qua phe phương Tây.

Theo thông tin do KGB và GRU cung cấp từ các quốc gia phương Tây, các sản phẩm điện tử tiêu dùng của Quốc gia Hoa cũng rất được ưa chuộng tại những nơi này. Những sản phẩm đó có thiết kế mới mẻ, chất lượng ổn định và được cập nhật nhanh chóng.

Chúng ta buộc phải tiêu tốn một lượng lớn dự trữ ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu này. Khi tôi thảo luận với Quốc gia Hoa xem liệu chúng ta có thể thanh toán bằng ruble không, họ luôn cười và từ chối; họ chỉ muốn sử dụng đô la Mỹ.

Nếu chúng ta vẫn là đồng minh như trước đây, chúng ta hoàn toàn không cần phải tiêu hao dự trữ ngoại tệ như vậy. Chúng ta hoàn toàn có thể nhận được công nghệ cần thiết từ Quốc gia Hoa. Ngay cả từ góc độ kinh tế, chúng ta cũng không thể để mất một đồng minh quan trọng như vậy.

Giữa chúng ta và Quốc gia Hoa đã có Mongolia đóng vai trò như một “bức tường chắn lửa” vững chắc; chúng ta không nên vì những tranh cãi vô nghĩa mà đẩy một đồng minh tuyệt vời như vậy về phía Hoa Kỳ. Điều này là điều chúng ta tuyệt đối không thể chấp nhận được.

Hàng năm, cuộc họp thường niên giữa Quốc gia Hoa và Hoa Kỳ vẫn được tổ chức; hiện tại, họ thậm chí còn tổ chức các cuộc thi bóng bàn để thúc đẩy giao lưu giữa hai nước.

Giáo sư tại Nhà Trắng cũng liên tục gửi ra những tín hiệu cho Quốc gia Hoa rằng chúng ta có thể trở thành đồng minh; Hoa Kỳ đối xử rất tốt với người Hoa, và chúng ta có thể trở thành bạn bè tốt với nhau.

Tại Geneva, New York, Stockholm… Giáo sư luôn tận dụng ảnh hưởng đặc biệt của mình để kéo Quốc gia Hoa về phía Hoa Kỳ.

Tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm của Andropov. Đây là một cơ hội hiếm có để khôi phục mối quan hệ giữa chúng ta và Quốc gia Hoa. Chúng ta không thể tiếp tục như hiện tại được nữa. Nếu một ngày nào đó, giáo sư thực sự giúp Nhà Trắng đạt được Yên Kinh, chúng ta sẽ hối tiếc vô cùng.

Kosygin luôn kiên trì muốn hàn gắn quan hệ với Quốc gia Hoa, ngay cả vào thời điểm này, ông cũng đã nhiều lần bay đến Yên Kinh để cố gắng làm dịu tình hình giữa hai bên.

Về việc Nga nhập khẩu rất nhiều sản phẩm điện tử tiêu dùng của Quốc gia Hoa, tất cả các thành viên trong cuộc họp đều biết điều đó.

Nhưng sự thay đổi về con số thực sự khiến mọi người đều ngạc nhiên.

“Chúng ta có thể không mua hàng hóa của Quốc gia Hoa được không?” Leonhard nói một cách nghiêm túc.

Ông không thể hiểu tại sao những thứ nhỏ nhặt đó lại trở thành thứ thiết yếu đối với người dân Nga.

Leonhard biết rằng họ liên tục nhập khẩu các sản phẩm của Quốc gia Hoa và tiêu tốn rất nhiều dự trữ ngoại tệ quý giá.

Điều ông không hiểu là, tại sao những thứ chúng ta có thể tự sản xuất lại phải mua bằng ngoại tệ?

Thủ tướng Kosykin thở dài.

Ông chịu trách nhiệm về kinh tế quốc gia, và những nhu cầu của người dân mà không thể được lập kế hoạch hay kiểm soát chính là nỗi ám ảnh lớn nhất của ông.

“Đồng chí Leonhard, chúng ta không thể làm vậy,” giọng ông đầy bất lực, “Người dân Moscow chỉ thích các sản phẩm điện tử tiêu dùng của Quốc gia Hoa; thứ hai mới đến là những sản phẩm của phương Tây; họ hoàn toàn không coi trọng những thứ chúng ta tự sản xuất.”

“Lấy ví dụ như những chiếc TV thương hiệu Vũ trụ do chúng ta sản xuất: hình ảnh mờ nhạt, âm thanh chói tai, và thường xuyên hỏng hóc.”

“Còn những chiếc TV Panda từ Quốc gia Hoa~, thì hình ảnh rõ nét, màu sắc sinh động.”

Điều ông không nói ra là, những chiếc TV của Quốc gia Hoa~ có thể thu nhận được tín hiệu truyền hình từ phe phương Tây, trong khi những chiếc TV của chúng ta thì không thể làm được điều đó.

“Phải chăng công nhân của chúng ta không thể sản xuất ra những thứ tương tự chất lượng cao sao?” Leonhard hỏi.

“Họ có thể làm được, đồng chí Leonhard, nhưng điều đó cần thời gian, công nghệ và đầu tư,” Kosygin nói một cách đắng cay, “Và những thứ đó, chúng ta đều thiếu hụt.”

“Các nhà khoa học và kỹ sư của chúng ta đều đang phục vụ cho mục đích quân sự; các nhà máy của chúng ta cũng đều được sử dụng cho mục đích quốc phòng.”

“Chúng ta không có nguồn lực dư thừa để sản xuất những sản phẩm tiêu dùng không cần thiết đó.”

“Nếu xét về mặt chi phí, việc mua hàng từ Quốc gia Hoa chắc chắn là lựa chọn tiết kiệm nhất.”

Dù sao thì sản phẩm của họ cũng rẻ hơn so với phe phương Tây. Dự trữ ngoại tệ của họ cũng sẽ được dùng để mua công nghệ và thiết bị từ chúng ta. Quan trọng hơn nữa, các sản phẩm tiêu dùng điện tử của Quốc gia Hoa không giống như sản phẩm của phe phương Tây – chúng sẽ không khiến người dân nghi ngờ về chủ nghĩa xã hội, cũng không làm suy yếu niềm tin của họ vào chủ nghĩa xã hội.”

Kosygin tiếp tục nói: “Vì vậy, dù thế nào chúng ta cũng phải tận dụng cơ hội này để cải thiện quan hệ với Quốc gia Hoa. Dù là về mặt kinh tế, chính trị hay quân sự, điều này chỉ mang lại lợi ích cho chúng ta mà không có hại gì cả.”

Hương Giang, số 23–27 đường Vĩnh Cát, Trung Hoàn

Đây là lần thứ hai Châu Nam đến tầng cao nhất này để lấy hàng sau khi gia nhập Hội Bách Hoa ở Hương Giang. Như lần trước, anh vẫn đi cùng với Hứa Thế Hùng. Anh cứ mang theo một chiếc thùng rồi đi thôi. Hứa Thế Hùng kìm nén những nghi ngờ của mình, biết rằng đây không phải là việc mà anh có thể can dự vào. Hiện nay, ở Hương Giang, Quốc gia Hoa, Ameérica và Anh đang chia sẻ quyền lực. Số 172 đường Mỹ Đôn, Tsim Sha Tsui, nơi Hội Bách Hoa đặt trụ sở, được coi là “chính phủ ngầm”. Châu Nam cũng không dám mở chiếc thùng đó; sau khi được vận chuyển về đất liền, nó được đưa thẳng lên khu vực 51. Bên trong thùng chứa đựng thiết kế của hệ thống GPS cùng một loạt tên lửa hướng dẫn. Trong số đó, loại tên lửa hướng dẫn bằng laser đến từ Ameérica là hoàn chỉnh nhất.

Vào đầu cuộc chiến tranh Việt Nam, lực lượng không quân Mỹ chủ yếu sử dụng bom thông thường và các cuộc oanh kích quy mô lớn. Phương pháp này hiệu quả kém, chi phí cao, và thường không thể phá hủy được những mục tiêu vững chắc hoặc di động như cây cầu, hang động hoặc trụ sở chỉ huy của đối phương. Để giải quyết vấn đề này, quân đội Mỹ rất cần một loại vũ khí có khả năng tấn công chính xác, chỉ cần một phát là đã đánh trúng mục tiêu. Trong bối cảnh đó, bom hướng dẫn bằng laser, hay còn gọi là Laser-Guided Bomb (LGB), đã ra đời và lần đầu tiên được sử dụng trong thực chiến vào cuối cuộc chiến tranh Việt Nam, thay đổi hoàn toàn cách thức tiến hành chiến tranh. Sai số của tên lửa hướng dẫn bằng laser chỉ khoảng vài mét. Nói một cách đơn giản, đó là việc một hoặc nhiều máy bay, lực lượng mặt đất, thậm chí là lực lượng đặc nhiệm, sử dụng một thiết bị chỉ thị bằng tia laser để chiếu liên tục vào mục tiêu.

Thiết bị này sẽ phóng ra những chùm tia laser được mã hóa, vô hình đối với mắt người, giống như một con trỏ chuột vậy.

  Một chiếc máy bay khác, thường là máy bay ném bom chiến đấu, sẽ thả những quả bom LGB đã được cải tiến ở khoảng cách xa.

  Sau khi được thả xuống, các cảm biến dò địa hình bên trong quả bom sẽ tự động tìm kiếm và theo dõi những chùm tia laser phản xạ từ mục tiêu.

  Bộ phận điều khiển hướng dẫn của quả bom sẽ liên tục thu nhận tín hiệu laser và điều chỉnh các bề mặt lái ở phần đuôi để sửa đổi quỹ đạo bay, đảm bảo rằng quả bom sẽ bay đúng hướng đến mục tiêu được chỉ định bởi tia laser.

  Cuối cùng, quả bom sẽ đánh trúng mục tiêu với độ chính xác cực cao.

  Trong thời gian thực tại, lần đầu tiên bom có hệ thống dẫn đường bằng laser được sử dụng trên quy mô lớn trong chiến đấu là vào năm 1972, trong chiến dịch “Hậu vệ”.

  Lúc bấy giờ, một trong những thách thức lớn nhất đối với quân đội Mỹ là phá hủy cây cầu Thanh Hóa của Bắc Việt.

  Cây cầu này là một trung tâm giao thông quan trọng của Bắc Việt; trước đó, quân đội Mỹ đã sử dụng hàng trăm phi vụ oanh kích nhưng vẫn không thể phá hủy nó hoàn toàn.

  Khi bom có hệ thống dẫn đường bằng laser được đưa vào sử dụng, tình hình đã thay đổi hoàn toàn.

  Quân đội Mỹ sử dụng máy bay chiến đấu F-4 Phantom II làm máy bay chỉ đạo và nền tảng thả bom; chỉ với vài quả bom LGB, họ đã thành công trong việc phá hủy cây cầu vững chắc đó.

  Suốt thời gian diễn ra cuộc chiến tranh Việt Nam, tổng cộng có 104 phi công Mỹ bị bắn rơi trong khu vực rộng 75 dặm vuông xung quanh cây cầu.

  Chiến dịch “Hậu vệ” thành công này đã gây chấn động lớn cho Toàn thế giới và cũng chứng minh tiềm năng to lớn của vũ khí có hệ thống dẫn đường chính xác.

  Sau khi có sự xuất hiện của tên lửa có hệ thống dẫn đường bằng laser, do không cần phải thực hiện các cuộc oanh kích ở độ cao thấp nguy hiểm nữa, phi công có thể thả vũ khí ở độ cao và khoảng cách an toàn hơn, từ đó giảm đáng kể nguy cơ bị bắn rơi.

  Thành công của bom LGB cũng đã mở đường cho các loại vũ khí có hệ thống dẫn đường chính xác khác sau này, như bom có hệ thống dẫn đường GPS hay đạn tấn công trực tiếp kết hợp.

  Những loại bom mà Châu Nam mang về lần này chính là những loại bom được sử dụng trong chiến đấu thực tế của Mỹ vào năm 1972, bao gồm GBU-10, GBU-11 và GBU-12.

  Đây cũng chính là những bướ

1/1 0%