lore

Chương 24: Chim bay và ếch

7,345 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

“Tôi không thích lắm khi giới truyền thông gọi tôi là một ‘nhà ẩn dật’; chỉ đơn giản là tôi lại là người đầu tiên viết bài báo nghiên cứu quan trọng về Định lý lớn Phép, nhưng điều đó không có nghĩa là tôi chỉ giỏi giải quyết những vấn đề lớn. Không phải ai cũng may mắn như tôi, có thể hoàn thành những dự án nghiên cứu quan trọng được.

Theo tôi, các nhà khoa học trẻ nên suy nghĩ về việc kiếm sống trước; họ cần bắt đầu với những dự án đơn giản hơn để chứng minh giá trị của mình, từ đó mới có cơ hội tìm được công việc giảng dạy tốt. Khi đã ổn định rồi, họ có thể thử đảm nhận những vấn đề khó hơn, những dự án lớn hơn – như vậy họ mới có thể cân bằng được cuộc sống và ước mơ nghiên cứu khoa học của mình.”

“Tôi rất thích câu so sánh mà vị giáo sư của tôi đã đưa ra về Nhà toán học. Ông ấy so sánh Nhà toán học với hai loại sinh vật: loài chim và loài ếch.

Loài chim bay cao trên bầu trời, nhìn xuống những khung cảnh toán học rộng lớn, trải dài đến tận chân trời. Chúng yêu thích những khái niệm có thể thống nhất tư duy con người và kết nối các vấn đề khác nhau trong nhiều lĩnh vực. Còn loài ếch sống trong bùn đất dưới mặt đất, chỉ nhìn thấy những bông hoa xung quanh mình; chúng thích khám phá chi tiết của những vấn đề cụ thể, và giải quyết từng vấn đề một.”

“Không, không có sự phân biệt cao thấp giữa chim và ếch; toán học cần cả hai. Toán học rất phong phú và đẹp đẽ, bởi vì chim mang lại cho nó những tầm nhìn xa trông rộng, còn ếch giúp làm sáng tỏ những chi tiết phức tạp. Chim nhìn xa hơn, còn ếch nhìn sâu hơn. Thế giới toán học vừa rộng lớn vừa sâu sắc; chúng ta cần sự cùng phối nỗ lực của cả chim lẫn ếch để khám phá nó.”

Hầu hết các cuộc phỏng vấn với Lâm Nhân đều xoay quanh chính lĩnh vực toán học; câu so sánh về chim và ếch trong những cuộc phỏng vấn đó, vì ý nghĩa sâu sắc của nó, đã được lan truyền rộng rãi trong cộng đồng Nhà toán học sau khi được dịch sang tiếng Anh.

Khi tin tức trở về châu Âu, vị giáo viên danh nghĩa mà Hào Khắc Hải Mạc đã tìm cho Lâm Nhân buộc phải đối mặt với những câu hỏi từ đồng nghiệp: liệu ông ấy thuộc về loài chim hay loài ếch? Tại sao trước đây ông ấy lại không chia sẻ những hiểu biết sâu sắc đó với mọi người?

Còn những nhà khoa học trẻ thuộc nhóm Nhà toán học thì đều đang tự hỏi liệu mình thuộc về loài chim hay loài ếch, và liệu mình có thiên phú để trở thành loài chim hay không.

Trên đường trở

Li Zhengdao gật đầu nói: “Landonf thực sự không giống một người trẻ mới hơn hai mươi tuổi chút nào; anh ấy khiến tôi cảm thấy mình rất rõ ràng về những gì mình đang làm và muốn làm. Cho đến bây giờ, tôi luôn cảm thấy mình đang bị các vấn đề thúc đẩy, bị những điều bất ngờ mà thế giới vật lý mang lại thúc đẩy để tiếp tục tiến lên.

Và ở độ tuổi này, anh ấy đã xây dựng được một “bản đồ toán học” hoàn chỉnh, mô tả rõ ràng quan điểm của mình về thế giới toán học – điều này thực sự rất hiếm có.”

Hai nhân vật lớn tuổi, đã giành giải Nobel Vật lý khi mới hơn ba mươi tuổi, lại cảm thấy mình như đang bị áp đặt trước mặt những người trẻ tuổi hơn.

“Anh Taniyama, anh thấy chưa? Những suy đoán của chúng ta ngày xưa quả thực là đúng; tất cả các đường cong elip trên miền Q đều thuộc loại modular. Suy đoán này, trong lĩnh vực toán học, thực sự đóng vai trò quan trọng như chúng ta từng dự đoán.

Thật đáng tiếc là anh không còn ở đây để chứng kiến điều này nữa…

Tôi thực sự không thể hiểu nổi tại sao anh lại qua đời đột ngột như vậy. Nếu anh Linh có thể chứng minh được Giả thuyết Taniyama sớm hơn hai năm, liệu bây giờ chúng ta có thể cùng nhau thảo luận về các vấn đề toán học trong phòng nghiên cứu của Đại học Tokyo không?

Anh Linh thực sự là một người phi thường. Chương trình nghiên cứu Landonf do anh đề xuất đã tạo ra một cú sốc lớn cho toàn bộ lĩnh vực Giới Toán học; rất nhiều vấn đề trong các lĩnh vực khác nhau đều có thể liên kết với chương trình này, và ý nghĩa sâu xa đằng sau việc hoàn thành chương trình đó khiến tất cả mọi người đều cảm thấy hào hứng.

Thật mong rằng anh cũng có thể chứng kiến được cảnh tượng này…”

Tại một ngôi chùa cách thị trấn Kitakyushu, tỉnh Saitama khoảng năm km về phía tây nam, một người đàn ông trẻ tuổi mặc vest và giày da đang đứng trước mộ phần, lẩm bẩm đọc tạp chí “Những Tiến Bộ Mới Trong Toán Học”.

Trước mộ phần là Shiro Taniyama – người được đề cập trong Giả thuyết Taniyama-Shimura – còn người nằm dưới lòng đất chính là người bạn thân thiết của ông, Yoshio Shimura.

Trong thời gian Taniyama còn sống, cả hai đều là giáo viên tại Đại học Tokyo; Taniyama là giáo sư, còn Shimura là giảng viên. Dựa trên giả thuyết của Taniyama, họ đã cùng nhau hoàn thành Giả thuyết Taniyama-Shimura.

Giả thuyết này được đề xuất bởi một người thuộc lĩnh vực Nhà toán học của Nhật Bản; vào những năm 50, Nhà toán học này vẫn còn ít được biết đến trên trường quốc tế, vì vậy Giả thuyết Taniyama-Shimura cũng bị lãng quên trong đống giấy tờ cũ.

Ngoài Taniyama và Shimura ra, không ai coi giả thuyết này là gì đ

Cuối cùng, Andrew Wiles đã hoàn thành giả thuyết Matsyura-Shiratori dưới hình thức đặc biệt này trên nền tảng của những người tiền nhiệm, từ đó chứng minh được Định lý lớn Phép, và khiến giả thuyết Matsyura-Shiratori trở nên nổi tiếng cùng với danh tiếng của Định lý lớn Phép này.

Trong số đó, Matsyura đã tự sát vào năm 1958. Theo nội dung bức thư tạm biệt của ông, lý do ông tự sát là do mệt mỏi và mất niềm tin vào tương lai. Trong bối cảnh sau chiến tranh, những quan điểm của Matsyura bị chỉ trích là không có cơ sở, đôi khi thậm chí còn bị coi là hành xử kỳ lạ – điều này ở Nhật Bản thời bấy giờ có nghĩa là không hòa nhập được với xã hội.

Nói thêm một điều, bạn gái chưa kết hôn của Matsyura cũng đã tự sát sau khi anh qua đời. Trong bức thư tạm biệt của cô, có viết: “Chúng ta đã hẹn nhau rằng dù ở đâu, chúng ta cũng phải ở bên nhau, mãi mãi không bao giờ chia ly. Vì anh ấy đã mất, thì tôi cũng muốn theo anh ấy.”

Ban đầu, bằng chứng mà Wiles đưa ra để chứng minh Định lý lớn Phép là có căn cứ, là kết quả của sự nỗ lực liên tục của nhiều thế hệ các nhà toán học. Nhưng giờ đây, khi bằng chứng đó lại được chứng minh bởi Lâm Nhân, điều này thực sự khiến mọi người ngạc nhiên.

Câu chuyện mới nhất này đã được đăng đầu tiên trên diễn đàn sách số 69! Đối với tất cả những ai đã từng tìm hiểu và nghiên cứu về giả thuyết Matsyura-Shiratori – hay nói đúng hơn là Định lý lớn Phép ngày nay – đây thực sự là một điều khó tin.

Bởi vì phương pháp mà ông ấy sử dụng chưa từng được bất kỳ nhà toán học nào trước đó nghĩ đến; giả thuyết Matsyura-Shiratori? Ngay cả cái tên này cũng chưa từng được ai nghe đến trước đây.

Đối với Shiratori, đây thực sự là khoảnh khắc gặp được tri kỷ: giả thuyết mà ông ấy đề xuất đã được sử dụng trong việc chứng minh Định lý lớn Phép. Điều này không chỉ mang lại danh tiếng cho ông, mà còn giúp cải thiện đáng kể điều kiện công việc của ông. Ban đầu, ông không thể nhận được vị trí giáo viên tại Đại học Tokyo và buộc phải chuyển đến Đại học Osaka; sau đó, vì không hài lòng với Đại học Osaka, ông lại chuyển đến Đại học Princeton.

Nhưng bây giờ, vì giả thuyết Matsyura-Shiratori là yếu tố cốt lõi trong Định lý lớn Phép, Đại học Tokyo đã liên hệ với ông ngay lập tức, mời ông quay trở lại làm việc và hứa sẽ trao cho ông vị trí giáo sư chính thức.

Ngoài niềm vui, Matsyura cũng cảm thấy buồn bã vì bạn thân của mình đã không thể chứng kiến được khoảnh khắc này… Chỉ kém hai năm thôi!

“Khoa Toán học của Đại học

1/1 0%