lore

Chương 2853: Lợi thế

3,724 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Cuộc phẫu thuật đã tiến đến giai đoạn này; theo kế hoạch ban đầu, vị trí của lỗ liên thất đã được xác định rõ và cấu trúc mạch máu trong não cũng đã được quan sát thấy. Chỉ cần đặt đầu ống dẫn vào chính xác vị trí lỗ liên thất, tránh xa cấu trúc mạch máu đó, là đã đạt được mục tiêu đầu tiên của ca phẫu thuật.

Vấn đề nằm ở chỗ, khi đã sử dụng kính soi não, các bác sĩ tốt bụng thường sẽ kiểm tra thêm khoang não bên của bệnh nhân để xem liệu hệ thống não có gặp phải vấn đề gì khác không.

Bệnh nhân này trước đây được nghi ngờ mắc chứng tắc nghẽn não do mạch máu, không biết điều đó có thực sự đúng hay không, hay là các xét nghiệm như CT trước phẫu thuật không thể phát hiện ra điều gì cả. Độ chính xác của máy CT vào thời điểm đó không cao lắm; điều này đã từng được đề cập đến trong các trường hợp trước đây.

Kính soi não mà các bác sĩ đang sử dụng là loại cứng, không phải loại mềm. Bác sĩ có thể quan sát toàn diện hơn cấu trúc não bằng cách thay thế ống kính thành những loại có góc nghiêng. Sau khi rút kính soi não ra, chỉ cần thay đổi đầu ống và gắn ống kính có góc 30 độ vào, sau đó lại cho nó vào trong não.

Lần đầu tiên thực hiện có thể sẽ gặp khó khăn, nhưng sau vài lần thử, Tiết Hoàn Anh đã trở nên tự tin hơn khi xoay ống kính có góc 30 độ; hai tay cô hoạt động một cách ổn định hơn, và không còn cảm thấy sợ hãi nữa.

Ống kính ban đầu chỉ có thể quan sát được phía trước; nhưng khi thay thế bằng ống kính có góc nghiêng và lùi lại một chút, khi xoay ống kính, có thể quan sát thấy toàn bộ thành của khoang não bên có hình dạng giống như một cái hang động kỳ lạ.

Nhìn chung, hình dạng của khoang não bên giống như một đường ống; chỉ là nó không phải hình tròn hoàn hảo mà giống như một cái hang động có hình dạng kỳ lạ. Trong cơ thể con người, có rất nhiều đường ống tương tự như đường thở hay đường tiêu hóa, nhưng thông thường mọi người không nghĩ rằng trong não cũng có những đường ống như vậy. Và điều này thật sự rất khó để các sinh viên y khoa có thể hiểu được chỉ qua việc học giải phẫu trong phòng thí nghiệm; bởi vì trong phòng thí nghiệm, những đối tượng được sử dụng để giải phẫu là những cơ quan đã chết, không phải sinh vật sống, không giống như trong phòng mổ, nơi mà người ta có thể chứng kiến trực tiếp những hiện tượng sống diễn ra bên trong các đường ống đó. Chẳng hạn, trên màn hình máy quay giám sát, người ta có thể thấy cảnh dịch não trong não bệnh nhân đang chảy trong các khoang não.

Sau khi kiểm tra xong khoang não bên, bác sĩ sẽ tiếp tục kiểm tra khoang não thứ ba. Lần này, ống kính sẽ phải đi qua lỗ liên thất. Lần đầu tiên

Nhìn như vậy thì có lẽ sư huynh Cao giỏi hơn sư huynh Đào trong việc hướng dẫn sinh viên; ông ấy chính là một “vị thầy vàng” ẩn danh đấy.

Không chỉ cô ấy nghĩ như vậy. Những người đang quan sát ở phòng mổ ngoại khoa số hai cũng nhận ra điều này; dù ống nội soi cứng cũng là công cụ hiệu quả, nhưng họ vẫn nhận ra rằng Tào Dũng này… bề ngoài tỏ vẻ nghiêm túc, nhưng thực ra lại đang âm thầm chăm sóc ai đó đấy.

Quay trở lại với chủ đề về ống nội soi, có vẻ như ống nội soi cứng mang lại nhiều ưu điểm – nó dường như rất thuận tiện cho các bác sĩ, giúp họ thực hiện công việc một cách dễ dàng hơn. Vậy tại sao lại phải phát minh ra ống nội soi mềm? Chẳng lẽ việc sử dụng ống nội soi cứng không phải là lựa chọn tốt hơn sao?

Tuy nhiên, ống nội soi cứng cũng có những hạn chế nghiêm trọng. Ví dụ, khi sử dụng ống nội soi cứng, vết mổ phải được thực hiện một cách chính xác; nếu hướng đưa ống vào não không đúng, sẽ rất khó để tiếp tục thực hiện các thao tác kiểm tra ở não thất ba. Hạn chế thứ hai còn nghiêm trọng hơn nữa: sau khi đưa ống nội soi cứng vào não thất ba, dù thay đổi góc độ của ống nhiều lần đi nữa, cũng không thể đi qua ống dẫn nước não được.

1/1 0%