lore

Chương 1326: Các trường hợp được thăm khám

3,972 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

“Tôi có một bệnh nhân ở đây, muốn mời bạn đến hỗ trợ trong việc thăm khám.”

Bảo cô gái sinh viên y khoa này đến hỗ trợ trong quá trình thăm khám? Thông thường, khi các bác sĩ cấp thấp thăm khám xong mà không hài lòng với kết quả, họ mới mời các bác sĩ cấp cao hơn đến hỗ trợ tiếp. Cô hoàn toàn có lý do để nghĩ rằng mình đã nghe nhầm.

“Đó là một bệnh nhân sau phẫu thuật ung thư thực quản đã bị rách vết ghép.” Người ta giải thích ngắn gọn về trường hợp bệnh cho cô, để cô hiểu tại sao lại muốn mời cô giúp đỡ.

Ung thư thực quản, ở Việt Nam, thường được xếp vào loại ung thư dạ dày; tỷ lệ mắc và tử vong đều được tính theo số liệu của ung thư dạ dày. Thực ra, đây là một loại ung thư chuyển tiếp. Theo giải thích về giải phẫu, thực quản nằm ở điểm giao giữa thực quản và dạ dày; vì vậy, khi xuất hiện khối u ở đây, nó sẽ mang đặc điểm của cả ung thư dạ dày và ung thư tuyến thực quản. Trong tương lai, y học sẽ định nghĩa chính xác hơn loại ung thư này là ung thư vùng nối giữa thực quản và dạ dày.

Về việc điều trị căn bệnh này, nếu khối u ở giai đoạn đầu, kích thước nhỏ, giống như các loại ung thư khác như ung thư ruột, thì có thể được điều trị bằng phương pháp nội soi tiêu hóa. Nguyên tắc chung là càng điều trị sớm thì triệu chứng càng được kiểm soát tốt. Đáng tiếc là người dân Việt Nam không có thói quen kiểm tra sức khỏe định kỳ. Khi phát hiện ra ung thư thực quản ở giai đoạn đầu, bệnh thường đã ở giai đoạn trung hay cuối, và chỉ có thể điều trị bằng phương pháp phẫu thuật.

Cả khoa phẫu thuật tổng quát lẫn khoa phẫu thuật tim phổi đều có thể thực hiện các ca phẫu thuật ung thư thực quản. Phương pháp của khoa phẫu thuật tổng quát là mổ bụng, không cần cắt qua cơ hoành, và chỉ cần cắt bỏ một phần thực quản và dạ dày. Tuy nhiên, do giới hạn của phương pháp này, các khối u còn sót lại ở đầu thực quản và các hạch bạch huyết trong khoang ngực có thể không được loại bỏ hoàn toàn, dẫn đến nguy cơ tái phát cao. Vì vậy, nhiều người chọn đến khoa phẫu thuật tim phổi để phẫu thuật. Phương pháp phẫu thuật của khoa này là tiến hành từ trong khoang ngực rồi mới vào khoang bụng, giúp loại bỏ triệt để các khối u hơn so với phương pháp của khoa phẫu thuật tổng quát. Tuy nhiên, phương pháp này cũng có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng, như chèn ép tim hoặc các cơ quan khác, hoặc gây ra tình trạng rách vết ghép sau phẫu thuật.

Ca phẫu thuật của bệnh nhân này được thực hiện tại khoa phẫu thuật tim phổi của Tuyên Ngũ. Khoa phẫu thuật tim phổi của Tuyên Ngũ có vẻ không quá nổi tiếng, nhưng ch

Sau phẫu thuật, tình trạng thủng vết hàn là một biến chứng khá phổ biến. Nguyên nhân gây ra hiện tượng này có liên quan đến kỹ năng của bác sĩ thực hiện ca phẫu thuật, đồng thời cũng phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố cá nhân của bệnh nhân. Tình trạng này có thể xảy ra ở bất kỳ khoa phẫu thuật nào. Việc xử lý tình trạng thủng vết hàn luôn được coi là một thách thức lớn trong ngành phẫu thuật. Điều này không có nghĩa là kỹ năng của các bác sĩ phẫu thuật không tốt; chỉ khi số ca thủng sau phẫu thuật vượt quá mức bình thường thì mới đáng lo ngại.

Bác sĩ Shao Jialiang, một đồng nghiệp trong khoa phẫu thuật, đã gặp phải một trường hợp như vậy và muốn mời bác sĩ chuyên khoa tim phổi để tham vấn. Nhưng Ngụy Quốc Viễn lại đề nghị rằng tốt hơn hết là mời Tiết Hoàn Anh đến kiểm tra.

Có hai phương pháp chính để giải quyết tình trạng thủng sau phẫu thuật: điều trị bảo tồn hoặc phẫu thuật can thiệp. Nếu chọn phương pháp phẫu thuật, có thể tiến hành lại ca mổ để mở lại lồng ngực hoặc bụng; hoặc có thể sử dụng phương pháp phẫu thuật ít xâm lấn qua nội soi để khép kín vết thủng – việc này thường do bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa thực hiện.

Bác sĩ Shao đã nhờ sự giúp đỡ của các đồng nghiệp trong khoa nội khoa của bệnh viện. Khoa tiêu hóa của Tuyên Ngũ cũng được đánh giá là có năng lực kỹ thuật tốt, nhưng kết luận cuối cùng là không thể thực hiện ca phẫu thuật này.

Tại sao vậy? Bởi vì bệnh nhân bị hẹp vết hàn, nên ống nội soi không thể đi vào được.

1/1 0%