lore

Chương 524: Thơ hùng vĩ như rồng thực

13,431 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Ngôi sao có bốn cấp độ; ngay cả những người không phải con cháu của các gia tộc quý tộc cũng có thể đạt được ngôi sao Cửu Vương, nhưng việc vươn lên tầm cao ấy lại vô cùng khó khăn, gần giống như việc tìm kiếm một trái tim không hề biết đến điều gì cả.

Phương Vận rời ánh mắt khỏi ngôi sao Cửu Vương và nhìn về bức tượng của mình.

Bức tượng trong Văn Cung vẫn không hề thay đổi gì, nhưng chuỗi đeo tay màu sắc trên cổ tay anh ta đã tăng lên nhiều so với ban đầu – đó là thành quả từ việc đọc “Chun Qiu” tại đền thánh.

Phương Vận hiểu rõ rằng, việc có thể trở thành một tiến sĩ thiêng liêng một cách nhanh chóng như vậy, công lao không thể không kể đến việc đọc “Chun Qiu” tại đền thánh.

Những tiến sĩ bình thường, do thiếu tài năng, chỉ khi tài năng của họ đạt đến mức hai tấc mới có thể nuôi dưỡng Thiên Kim Kiếm Pháp. Bởi vì trong quá trình nuôi dưỡng Thiên Kim Kiếm Pháp, họ cần liên tục tiêu hao tài năng; nếu tài năng không đủ, quá trình này sẽ bị gián đoạn.

Những tiến sĩ không có khả năng nuôi dưỡng Thiên Kim Kiếm Pháp thì chỉ có thể được coi là “tiến sĩ cấp độ sơ cấp”.

Thiên Kim Kiếm Pháp được nuôi dưỡng trong Văn Cung và phát ra từ miệng người sử dụng nó. Để ngăn chặn sự rò rỉ sức mạnh, những tiến sĩ này hầu như không nói chuyện trong thời gian này; vì vậy họ được gọi là “tiến sĩ nói chuyện cẩn thận”.

Tuy nhiên, vào khoảnh khắc Thiên Kim Kiếm Pháp được phát ra thành công sau khi quá trình nuôi dưỡng hoàn tất, khi kết hợp với thơ “giấu lưỡi kiếm” và thơ “mở lưỡi kiếm”, sức mạnh của nó sẽ trở nên vô cùng lớn lao, ít nhất cũng tương đương với việc tăng thêm một cấp độ sức mạnh.

Hiện tại, Phương Vận đã có hơn chín tấc tài năng; không chỉ việc nuôi dưỡng một thanh kiếm bình thường trở nên dễ dàng, mà ngay cả việc nuôi dưỡng một thanh kiếm chứa xương rồng cũng không thành vấn đề. Nhưng để biến xương rồng thật thành một thanh Thiên Kim Kiếm Pháp, lượng tài năng cần tiêu hao có lẽ sẽ gấp hàng chục lần so với người khác.

Dù sao đi nữa, việc nuôi dưỡng Thiên Kim Kiếm Pháp vẫn là điều cần thiết.

Phương Vận rời khỏi Văn Cung, hít một hơi thật sâu, lấy ra những chiếc ghế và bàn làm từ vỏ sò uống sông, sau đó lấy ra bút mực tốt nhất và một trang giấy màu vàng nhạt.

Phương Vận là một người thường xuyên đến đền thánh “Thánh Đạo”; số trang giấy mà anh ta nhận được nhiều hơn cả tổng số những gì mọi người khác nhận được trong cả một năm.

Khi ở Thánh Tích, Phương Vận đã thu được những chiếc vỏ sò uống sông từ thân x

Người đỗ cử nhân chỉ có thể sử dụng các vật phẩm dành cho người đỗ tiến sĩ, nhưng bây giờ Phương Vận đã là tiến sĩ rồi, nên hoàn toàn có thể sử dụng những vật phẩm mạnh mẽ của hàng lang hàn lâm.

Trong số sáu vật phẩm hàng lang hàn lâm này, có hai cái bị hỏng và cần được sửa chữa lại. Phương Vận đã gửi hai vật phẩm này cùng với những thứ khác đến Viện Thánh.

Bốn vật phẩm còn lại vẫn có thể sử dụng được.

Một trong số đó là “Bút Bán Phong”, bên trong cây bút này ẩn chứa một bài thơ chiến tranh của hàng lang hàn lâm có tên “Bán Phong Kinh”. Khi bài thơ được phát ra, nguồn năng lượng trong đó sẽ biến thành một ngọn núi nhỏ cao trăm thước để tấn công kẻ thù. Đây là sản phẩm tình cờ được một vị hàn lâm già tạo ra sau khi ông ta chứng kiến cảnh Núi Phong đổ xuống; sức mạnh của nó thực sự rất lớn.

Một vật phẩm khác là “Đá Mài Thiên Kiệt”, chiếc đá mài này không chứa những bài thơ dùng để giết chóc kẻ thù, mà là những bài thơ dùng để chặn đứng quân địch, tạo thành những con hẻm lớn để ngăn cản đối phương. Vật phẩm này rất hiệu quả khi dùng để chặn đứng các đội quân trên mặt đất, nhưng trên Đài Thăng Long – nơi mọi người đều có thể bay – thì tác dụng của nó lại rất hạn chế, chỉ có thể dùng để cản trở những con rồng yêu không giỏi bay mà thôi.

Vật phẩm thứ ba là chiếc “Giấy Dầu Tôn Quy”, một vật phẩm bảo vệ nổi tiếng. Bên trong nó chứa bài thơ “Tôn Quy Ca” của Tào Tháo. Bài thơ cổ này được Tào Tháo viết sau khi ông ta nhìn thấy một con rồng yêu trên biển; nó có thể triệu hồi một con rồng yêu khổng lồ để bảo vệ bản thân và có thể di chuyển rất nhanh.

Cho đến nay, “Tôn Quy Ca” vẫn là bài thơ chiến tranh bảo vệ được các hàn lâm sử dụng phổ biến nhất.

Vật phẩm thứ tư thì gần như vô dụng.

Với sự phát triển vượt bậc của văn học ở thời kỳ Thập Quốc và dân số lên đến hàng tỷ người, số lượng bài thơ chiến tranh khá nhiều, đặc biệt là từ những người đỗ tiến sĩ trở lên. Tuy nhiên, số lượng những bài thơ được lưu truyền lại lại rất ít.

Trong số những bài thơ chiến tranh đó, có một số bài được viết theo hướng sai lầm.

Vật phẩm thứ tư chính là một giá bút hình rồng; bài thơ “Tán Thành Cung Sông” được chứa bên trong đó thuộc loại bài thơ chiến tranh được viết theo hướng sai lầm này.

Nếu bỏ qua khả năng bảo vệ đi, thì bài thơ cổ này có văn phong đẹp đẽ, nhưng vấn đề là lời văn trong bài thơ quá hoa mỹ, khiến cho tính thực dụng của nó bị che khuất. Bài thơ chiến tranh bảo vệ này sẽ biến thành một cung điện lộng lẫy, nhưng khả năng bảo vệ của nó rất kém; nó chỉ có thể chống đỡ được một hoặc hai lần tấn công của người

Vốn dĩ, một học giả cao cấp như ông ta không thể nào trong lúc sắp chết lại dùng hết sức lực cả đời mình để tạo ra những bài thơ chiến tranh hoa mỹ này, cũng không thể nào gửi chúng cho quốc gia vì không có ích gì, còn muốn truyền lại cho đời sau thì cũng không ai muốn, bán đi cũng không ai mua… Trừ khi có người đặt hàng trước và hứa sẽ đưa cho ông ta những lợi ích lớn lao.

Dù không biết nguồn gốc của thứ này là gì, nhưng chỉ nhìn vào phong cách thiết kế xa xỉ và việc lãng phí nguyên liệu như vậy, Phương Vận đã biết chắc rằng chắc chắn phải là một vị hoàng tử nào đó trong dòng dõi Long Tộc muốn sở hững thứ hoa mỹ vô dụng này, nên mới sẵn lòng trao đổi với một học giả cao cấp như vậy bằng những lợi ích lớn lao.

Long Tộc đã không ít lần làm những việc khiến người ta cười nhạo.

Phương Vận đặt cây bút Bàn Phong và khối đá đè bản thảo lên bàn, sẵn sàng sử dụng bất cứ lúc nào. Những bài thơ chiến tranh được Văn Bảo bảo quản trong đó vẫn giữ nguyên sức mạnh, nhưng nhược điểm là sau mỗi lần sử dụng, phải mất rất nhiều thời gian mới có thể sử dụng lại được, và lượng tài năng tiêu hao cũng gấp đôi so với những bài thơ chiến tranh thông thường; tuy nhiên, ưu điểm là chúng có thể được sử dụng ngay lập tức.

Sức mạnh của những bài thơ chiến tranh do các tiến sĩ bình thường sáng tác rất khó có thể sánh kịp với những bài thơ của Văn Bảo.

Mặc dù bút mực Thiên Kiện Yên là sản phẩm của Văn Bảo, nhưng Phương Vận vẫn có chiếc bút mực Long Não Mộc Yên mà mình đã giành được tại Hội Văn Nghệ Chương Thang, hiệu quả của nó vượt xa so với bút mực Thiên Kiện Yên; ngay cả những chiếc bút mực của các đại học sĩ cũng không thể sánh kịp với nó.

Phương Vận chuẩn bị mọi thứ xong, hít một hơi thật sâu, cầm lấy cây bút Bàn Phong, và trong đầu ông ta hiện lên bài thơ “Thai Kiếm Thơ”, còn được gọi là “Nuôi Kiếm Thơ”.

Bài thơ “Thai Kiếm Thơ” tập trung vào từ “thai”; ý tưởng là phải dùng những từ ngữ mạnh mẽ để bao bọc lấy “xương rồng”, từ đó hòa trộn tài năng và sự can đảm văn chương, cuối cùng tạo ra Thiên Kim Kiếm Pháp.

Thiên Kim Kiếm Pháp là một loại sức mạnh nằm giữa vật chất và tinh thần, vì vậy nó mang trong mình nhiều điều kỳ diệu.

Phương Vận đã viết những bài thơ này thành ba bia đá trong Đình Mực Kiếm của Lăng Diên Các; khi những từ ngữ trong bài thơ hóa thành kiếm, Thiên Kim Kiếm Pháp sẽ xuất hiện ngay lập tức, và một thanh kiếm mực sẽ theo sát người sử dụng nó, với sức mạnh ngang ngửa với nh

Việc lựa chọn bài thơ về quá trình tạo ra thanh kiếm là một việc cực kỳ cẩn thận. Trong số rất nhiều bài thơ liên quan đến kiếm, hầu hết chỉ miêu tả một cách gián tiếp; còn những bài thơ thực sự thể hiện ý nghĩa về việc rèn đúc hoặc hình thành thanh kiếm thì lại rất ít.

Sau nhiều suy nghĩ, tôi đã tìm được một bài thơ khác biệt, có ý nghĩa sâu sắc về quá trình tạo ra thanh kiếm – và nó thuộc loại thơ liên ngôn. Thơ liên ngôn là một hình thức sáng tác thơ cổ, không do một người duy nhất viết nên, mà là nhiều người cùng đóng góp từng câu để tạo thành một bài thơ hoàn chỉnh.

Sau nhiều ngày suy ngẫm, tôi quyết định sử dụng bài thơ “Kiếm Liên Ngôn” này làm bài thơ về quá trình tạo ra thanh kiếm. Hai tác giả đầu tiên của bài thơ này đều là những nhân vật nổi tiếng; ngay cả tác giả thứ ba, dù có danh tiếng kém hơn, cũng đã trở nên nổi tiếng nhờ vào bài thơ này.

Hai tác giả đầu tiên của bài thơ là Phạm Trung Yên và Âu Dương Tu, còn tác giả thứ ba là Đằng Tử Kinh.

Tôi bắt đầu viết trên trang giấy thiêng liêng:

“Thánh nhân tạo ra binh khí thần thánh, để thiết lập lại trật tự cho thế giới.”

Hai câu này do Phạm Trung Yên viết. Khi tôi bắt đầu viết, một luồng khí hùng vĩ, trong sáng bao trùm xung quanh tôi; tôi cảm nhận được tầm vóc lớn lao của một vị quan đại tài, người luôn lo lắng trước mọi người và hưởng niềm vui sau khi mọi người đã yên bình.

“Chỉ Dư phát huy tài năng thiên bẩm, Càn Kiếm tạo nên những chiến công vĩ đại.”

Hai câu này do Âu Dương Tu viết. Theo truyền thuyết cổ đại, Chỉ Dư là người đầu tiên luyện kim chế tạo vũ khí; còn Càn Kiếm là một thợ rèn kiếm nổi tiếng, người đã cùng vợ mình tạo ra hai thanh kiếm huyền thoại là Càn Kiếm và Mạch Nha.

Những câu này muốn nói rằng, việc các thánh nhân tạo ra thanh kiếm thần thánh không chỉ cần tài năng của Chỉ Dư trong việc luyện kim, mà còn cần sự xuất sắc của Càn Kiếm trong nghệ thuật rèn kiếm.

“Cối xay mở ra vũ trụ, lò luyện tạo nên sự phân chia âm dương.”

Đây là hai câu do Đằng Tử Kinh viết. Những cối xay trong lò luyện có sức mạnh mở ra vũ trụ, và quá trình luyện kiếm thần thánh có thể tạo nên sự phân chia âm dương.

“Hoàng đế phía Nam ban tặng nguồn năng lượng lửa, Hoàng đế phía Tây ban tặng dung dịch vàng. Lửa rực cháy trên núi Khun Gang, dòng sông Hồng cuồn cuộn chảy trào.”

“Khí huyết thiêng liêng của mặt trời và mặt trăng tan biến…”

Khí huyết không cần phải quá mạnh mẽ; chỉ cần được sắp xếp một cách hợp lý, thì nó cũng đủ để tạo nên sức mạnh lớ

“Nâng đỡ những người tài năng, chỉ cần liếc mắt là mọi thứ trở nên yên bình.”

“Trung thành và chính trực, dấu ấn của những người quân tử kiên định.”

“Ban đầu nó được coi như chiếc chén lớn của mùa hè; những con quỷ dữ tìm đến nơi này để sinh sôi nảy nở…”

“Nhưng khi nó được sử dụng như thanh kiếm của Ngô Vương, ngay cả những con voi khổng lồ cũng không thể chống lại nó…”

“…Những kẻ xấu xa bị tiêu diệt, những phe phái gian ác bị đánh bại.”

“Một khi nó được sử dụng bởi người anh hùng, mọi kẻ hung ác sẽ bị tiêu diệt.”

“Vua Chu theo lời trời mà xuất quân; ngay cả vùng đất rộng lớn của triều đại Thương cũng không thể chống lại.”

“Chúa tước Chu tung ra tiếng gầm của quân đội; hàng vạn binh sĩ của triều đại Tần đều run sợ.”

“Ánh sáng thiêng liêng chiếu rọi khắp các vùng đất của Ngô và Chu; khí giết chóc lan tràn khắp vùng biên giới Yên và Dị.”

“Cùng ngươi, ta có thể chặt đứt những chiếc chân của con rùa khổng lồ; bốn phương trời sẽ trở nên yên bình.”

“Cùng ngươi, ta có thể cắt đứt những cánh của con chim phượng hoàng; ba vì sao sẽ trở nên sáng chói hơn…”

Bài thơ này do ba người cùng viết, toát lên vẻ hùng vĩ và oai nghiêm. Chiếc kiếm này được ban tặng bởi Hoàng đế Nam với nguyên liệu lửa, được Hoàng đế Tây ban tặng dung dịch vàng; Lôi Đình đã giúp rèn luyện nó; mặt trời và mặt trăng được coi là linh hồn của chiếc kiếm này. Khi chiếc kiếm ra đời, gió và mây sẽ nổi lên; nơi nào chiếc kiếm đặt tay vào, mọi thứ sẽ trở nên yên bình. Nó có thể giúp con người trở nên chính trực và minh bạch trong tâm hồn; giống như chiếc chén lớn của mùa hè, nó có thể đè bẹp những điều xấu xa; giống như thanh kiếm mà vua Thuận sử dụng để giết chết Gун – kẻ không có khả năng kiểm soát dòng nước – nó có thể chặt đứt những con sóng lớn và tiêu diệt những kẻ hung ác.

Khi chiếc kiếm này ra đời, Vua Wu của nhà Chu sẽ giành được mọi chiến thắng; ông có thể xông thẳng vào thành phố Triệu Ca của triều đại Thương. Nếu chiếc kiếm này thuộc về Xiang Yu, các binh sĩ của triều đại Tần sẽ phải lo lắng đến tận đầu óc. Ánh sáng của chiếc kiếm sẽ chiếu rọi khắp các vùng đất Ngô và Chu; khí giết chóc sẽ lan tràn khắp vùng biên giới Yên và Dị. Nó có thể chặt đứt những chiếc chân của con rùa khổng lồ và cắt đứt những cánh của con chim phượng hoàng…

Phương Vận đã đọc bài thơ này nhiều lần; lần đầu tiên ông viết nó xuống trang giấy thiêng liêng, lòng ông tràn ngập cảm xúc mãnh liệt, như thể chính mình là người cầm chiếc kiếm ấy, s

Ngay lập tức, tấm thánh giấy bắt đầu phóng to nhanh chóng, bao quanh chiếc xương rồng vàng oai phong ấy; ngay cả trước khi chiếc xương kia kịp vùng vẫy, nó đã hóa thành những tia sáng rực rỡ và đi vào giữa lông mày của Phương Vận, thấm sâu vào bên trong.

Phương Vận vội vàng ngẩng đầu nhìn lên.

Một tiếng vang chói tai vang lên, và ánh sáng vàng từ bài thơ “Kiếm Liên Cú” bao quanh chiếc xương rồng, lao thẳng vào bên trong “văn tâm”.

Bên trong “văn tâm”, các vì sao lấp lánh, tài năng tuôn trào, ánh đèn lung linh, các vị trí sao rung chuyển… Tất cả những nguồn năng lượng ấy đều đổ dồn vào bên trong “văn tâm”.

“Ào…”

Bên trong “văn tâm” trong suốt hình dạng giống như những giọt nước, một con rồng vàng hoàn chỉnh vung đầu gầm thét, cuồng nhiệt tấn công và xé nát “văn tâm”.

Tất cả các nguồn năng lượng đó kết hợp lại với “văn tâm”, bảo vệ nó khỏi bị vỡ.

Khi Phương Vận nhìn kỹ hơn, anh ta phát hiện ra rằng những chiếc vảy trên thân con rồng vàng ấy thực chất là những chữ cái; những chữ cái này tạo thành toàn bộ nội dung của bài thơ “Kiếm Liên Cú”.

Dù chiếc xương rồng có vùng vẫy thế nào, nó cũng không thể thoát khỏi sự kiểm soát của bài thơ này.

Bài thơ đã chiếm hữu con rồng!

.r1152 ()

1/1 0%