Chương 326: Những kẻ tìm kiếm kho báu
Phong Lạnh Tình, Thiết Trung Kiên và Thủy Linh đều là đệ tử của môn Đào Độ Môn, vì vậy họ đều nhận biết rõ các biểu tượng đặc trưng của từng phái trong môn này.
Đệ tử của phái Bàn Sơn mỗi người đều mang theo một tấm “Lệnh Bàn Sơn”; cái gọi là “lệnh còn thì người còn, lệnh mất thì người mất”. Còn đệ tử của phái Mó Kim thì mỗi người đều có một tấm “Mó Kim Phù”.
Tấm “Mó Kim Phù” này được chế tác từ móng vuốt sắc bén nhất của loài tê tê. Trên thân phù khắc hai chữ cổ “Mó Kim”, và đây chính là vật mà các sĩ quan Mó Kim luôn đeo bên mình. Và trong căn phòng cất cỏ của quán trọ này, người phụ nữ già mặc áo xanh lại đang nắm chặt trong tay một tấm “Mó Kim Phù”。
Làm sao ba người Phong Lạnh Tình, Thiết Trung Kiên và Thủy Linh không thể không ngạc nhiên?
Thành Thiên Kiêu đã trải qua nhiều năm ở giang hồ, vì vậy anh ta đã nghe nhiều câu chuyện về những kẻ đào mộ. Ngay khi nghe thấy ba người này nói ra ba chữ “Mó Kim Phù”, anh ta lập tức hiểu ngay ý nghĩa của nó và chậm rãi hỏi: “Cái này chính là ‘Mó Kim Phù’ à?”
Phong Lạnh Tình gật đầu, với vẻ mặt nghiêm túc.
Trong mắt Thành Thiên Kiêu lóe lên một tia sáng, và anh ta từ từ nói: “Chẳng lẽ người phụ nữ già mặc áo xanh này là đệ tử của phái Mó Kim sao?”
Ba người Phong Lạnh Tình, Thiết Trung Kiên và Thủy Linh nhìn nhau, không ai dám chắc liệu người phụ nữ này có thực sự là đệ tử của phái Mó Kim hay không.
Phong Lạnh Tình chậm rãi nói: “Có lẽ người phụ nữ này chỉ là một xác ướp đã được chôn cất ở đây từ rất lâu trước đây.”
Thiết Trung Kiên gật đầu đồng ý.
Thành Thiên Kiêu từ từ đưa tay ra, muốn chạm vào tấm “Mó Kim Phù” đó.
Người phụ nữ già mặc áo xanh nhắm chặt mắt, không hề nhúc nhích. Nhưng ngay khi bàn tay khô cằn của Thành Thiên Kiêu tiến lại gần tấm “Mó Kim Phù” và chạm vào nó, người phụ nữ ấy đột nhiên mở mắt, và hai bàn tay của cô ta lao về phía cổ họng của Thành Thiên Kiêu.
Hành động này diễn ra nhanh như chớp; có vẻ như hai bàn tay của người phụ nữ ấy sẽ kịp bắt được cổ họng của Thành Thiên Kiêu. Thành Thiên Kiêu lập tức lùi lại phía sau, nhảy sang khoảng cách ba mét.
Người phụ nữ già mặc áo xanh run rẩy đứng dậy, bụng cô ta phồng lên cao, và đôi mắt cô ta nhìn chằm chằm vào Thành Thiên Kiêu.
Thành Thiên Kiêu cho tấm “Mó Kim Phù” vào lòng, sau đó nhanh như chớp lấy ra một tờ giấy vàng, lao về phía trước và dán tờ giấy đó lên trán người phụ nữ ấy.
Lúc đó, ánh mắt hung ác vẫn hiện rõ trên khuôn mặt người phụ nữ ấy, nhưng ngay khi tờ giấy vàng được d
Nó lại trở về hình dạng ban đầu.
Thành Thiên Kiêu rút ra một con dao găm, ánh lưỡi dao lấp lánh trong không khí khi anh ta đâm nó xuống. Tiếp theo là tiếng “phập” – con dao đã xuyên vào bụng của người phụ nữ già mặc áo xanh, xé rách chiếc áo bên ngoài và làm rách bụng cô ta.
Khi bụng bị xé ra, một dòng nước đen bắn tung tóe ra ngoài. Phong Lãnh Tình, Thiết Trung Kiên và Thủy Linh vội vàng lùi lại một bên.
Dòng nước đen này bắn lên hai bên cái hố đất, lập tức làm cho lớp đất vàng vừa được đào lên chuyển sang màu nâu đen.
Bốn người nhìn thấy cảnh tượng ấy mà lòng không khỏi sợ hãi.
Thành Thiên Kiêu nói với giọng nghiêm túc: “Rõ ràng người phụ nữ già mặc áo xanh này đã hóa thành xác sống hung dữ. Khi nó xuất hiện ở sân trong, nó liên tục phun nước ra; người đàn ông trần truồng kia chính là bị dòng nước độc do xác sống này phun ra trúng mặt, và sau đó mới chết vì nọc độc.”
Thiết Trung Kiên nói: “Chúng ta đã có được lá bùa tìm vàng này, vậy là đã tiết kiệm được rất nhiều công sức. Nghe nói rằng nhóm người tìm vàng đang tập trung ở một nơi gọi là Mò Thiên Nham, thuộc dãy núi Lý Liang ở Sơn Tây. Nơi đó được canh gác rất chặt chẽ, nhưng với lá bùa này, chúng ta sẽ có thể tin tưởng vào những người canh gác và được phép lên Mò Thiên Nham để tìm con gấu trúc.”
Phong Lãnh Tình gật đầu và nói: “Anh Thiết nói đúng lắm.”
Thành Thiên Kiêu đặt bốn cái đinh dài khoảng hai inch ở bốn góc của cái hố đất, mũi đinh hướng thẳng về phía người phụ nữ già mặc áo xanh. Anh ta giải thích: “Đây gọi là Bốn Hình Trấn Hồn Đinh. Chỉ cần không lấy những cái đinh này ra, xác sống này sẽ không bao giờ quay lại thành hình người nữa.” Sau đó, Thành Thiên Kiêu gọi chủ quán là Niu Nhị đến.
Niu Nhị đã sợ đến mức mặt tái nhợt, chân run rẩy. Trong phòng củi của quán trọ lại xuất hiện một xác sống, và xác sống này còn phun nước đen, khiến một người chết. Rõ ràng mình không thể tránh khỏi trách nhiệm này. Mất tiền thì còn đỡ, nhưng e rằng nếu chính quyền điều tra, mình sẽ không thoát khỏi trách nhiệm pháp lý.
Thành Thiên Kiêu dặn dò Niu Nhị: “Tất cả những chuyện này đều do xác sống trong cái hố đất này gây ra. Bạn không cần phải sợ hãi, chỉ cần sau khi chúng ta đi rồi, bạn chôn lấp cái hố đất này lại là được. Nhớ lắm, đừng bao giờ chạm vào những cái đinh này. Chúng được thiết kế riêng để kiểm soát xác sống này.”
Niu Nhị liên tục cảm ơn.
Bốn người trở lại tầng trên và nghỉ ngơi. Sáng hôm sau, họ thanh toán tiền phòng rồi rời đi. Vừa ra khỏi cửa, họ đã thấy h
Thành Thiên Kiêu thì thầm: “Những người này chắc hẳn là người thân của những người đã chết tối qua. Họ đến đây với vẻ hung hăng như vậy, thì Niu Nhị chắc sẽ phải tốn kém không ít đâu.”
Bốn người đi về phía tây thị trấn, theo con đường lớn ấy tiếp tục hành trình về phía tây. Sau một ngày đi bộ, gần tới buổi tối, họ mới đến được con đường chính. Họ nghỉ ngơi một đêm trong một quán trọ ven đường, và ngày hôm sau liền mua bốn con ngựa để tiếp tục hành trình về phía bắc.
Họ vượt sông Dương Tử, qua sông Hoàng Hà, đi từ từ suốt khoảng mười ngày, cuối cùng cũng đến được lãnh thổ Sơn Tây. Khoảng cách đến Vách Đá Mạo Thiên ở núi Lý Liang chỉ còn một ngày đi là đến. Khi trời tối dần buông xuống, họ nhìn xung quanh và thấy chỉ có một ngôi đền Quan Đế hoang tàn ở xa xôi có vẻ như là nơi có thể trú ẩn được.
Phong Lạnh Tình lập tức nói: “Sư phụ Thành, anh Trưởng Tiếc, chúng ta hãy vào ngôi đền Quan Đế này nghỉ qua đêm đi, ngày mai rồi tiếp tục lên đường cũng không muộn.”
Mọi người đều gật đầu đồng ý. Ngay lập tức, họ cưỡi ngựa tiến về phía ngôi đền Quan Đế. Chỉ trong chốc lát, bốn người đã đến trước cửa ngôi đền. Khi nhìn lên, họ thấy cửa chính của ngôi đền đã mở toang; hai tấm cửa đã mục nát và nghiêng về một bên. Các chữ “Quan Đế” viết trên cửa cũng không còn rõ nét nữa. Tiếc Trung Kiên nói: “Chắc ngôi đền này đã có tuổi đời hàng trăm năm rồi.”
Bốn người cưỡi ngựa bước vào bên trong. Họ đi vào sân của ngôi đền, nơi có khoảng mười cây hoa đậu long móng cao vút. Thân cây của những cây này rất to; trong bóng đêm, những nhánh cây uốn lượn trông giống như những bàn tay ma quỷ đáng sợ. Trên nền sân còn rơi đầy lá khô.
Cả khuôn viên ngôi đền hoang tàn này toát lên vẻ u ám và cô đơn.
Chưa có truyện phù hợp.