lore

Chương 434

100,694 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

“Người thuê nhà trước đây có hút thuốc không?” Minh Ca đột nhiên hỏi khi đứng bên cửa sổ.

Chủ nhà dường như rất ghét việc người khác hút thuốc; bà cau mày trả lời: “Có chứ, tôi đã thấy nhiều lần rồi. Chỉ vài ngày sau khi tôi mua ga trải giường mới, chúng đã bị anh ta làm thủng vài lỗ.”

Minh Ca lại hỏi: “Vậy người thuê nhà hiện tại có hút thuốc không?”

Chủ nhà lắc đầu: “Một phụ nữ đàng hoàng như bà ấy làm sao lại hút thuốc được chứ? Dù sao thì tôi cũng chưa bao giờ thấy cô ấy hút thuốc đâu.”

Minh Ca “Ồ” một tiếng, rồi vẫy tay với Diệp Tiền đang đứng bên ngoài cửa. Diệp Tiền hiểu ý ông liền đẩy chủ nhà sang một bên. Chúng tôi biết Minh Ca muốn nói điều gì đó, vì vậy tất cả đều tụ tập lại bên cửa sổ.

**Mười bảy**

Minh Ca lấy kính phóng đại soi vào khung cửa sổ bằng gỗ; một vết đen không đều được kính phóng đại gấp nhiều lần. Loại dấu vết này thuộc lĩnh vực nghiên cứu của tôi; trong khoa học, nó được gọi là “dấu vết do việc vứt thuốc”.

Để hiểu rõ loại dấu vết này, chúng ta cần biết thêm một kiến thức quan trọng, trong ngành dấu vết học, nó được gọi là “thói quen vứt thuốc theo bản năng”.

Thông thường, chúng ta phân loại các thói quen vứt thuốc theo bản năng thành 5 loại:

Thứ nhất là **đánh thuốc**: Người hút thuốc dùng ngón cái và ngón trung để nhẹ nhàng cầm đầu thuốc, ngón trỏ cong lại và đặt vào phần được cắn, sau đó đánh mạnh đầu thuốc. Nếu không có vật cản, đầu thuốc sẽ bay ra xa hơn 2 mét và có hình dạng cong.

Thứ hai là **ném thuốc**: Người hút thuốc cố tình ném đầu thuốc theo một hướng nhất định. Khác với cách đánh thuốc, đầu thuốc sẽ rơi xuống một cách gọn gàng.

Thứ ba là **buông thuốc**: Người hút thuốc vô thức muốn dập tắt đầu thuốc, liền buông tay ra và để đầu thuốc rơi tự do xuống đất, sau đó dùng giày dập tắt nó. Vì có các hành động như đạp, nghiền, xoay… nên đầu thuốc sẽ bị biến dạng nặng nề.

Thứ tư là **phun thuốc**: Người hút thuốc không sử dụng tay để xử lý đầu thuốc, mà trực tiếp phun nó ra ngoài miệng. Cách vứt thuốc này thường được sử dụng khi người hút thuốc không thoải mái khi sử dụng tay. Trên đầu thuốc sẽ có vết cắn sâu và dấu vết của nước bọt.

Thứ năm là **nén thuốc**: Cách vứt thuốc này thường được sử dụng trong những không gian có nhiều vật dụng xung quanh. Người hút thuốc kết hợp việc vứt và dập tắt đầu thuốc lại với nhau; thường sẽ để lại những vết đen hình điểm trên bàn cạnh lò sưởi, bậc cửa sổ… và đầu thuốc cũng sẽ bị biến dạng do b

Dấu vết trên khung cửa sổ còn tương đối mới; những người thuê nhà hiện tại không hút thuốc, vì vậy chỉ có thể là kẻ nghi phạm đã để lại những dấu này.

Nếu biết được cách kẻ sát nhân tiêu hủy điếu thuốc, chúng ta sẽ biết được hình dạng cuối cùng của những tàn thuốc đó. Bên dưới cửa sổ là một không gian hẹp và kín, chúng ta chỉ cần thu thập tất cả các tàn thuốc ở đó, rồi dựa vào hình dạng của chúng để xác định xem những tàn thuốc nào là do kẻ nghi phạm để lại sau khi tiêu hủy chúng.

Người ta thường nói: “Lý tưởng thì đầy đặn, nhưng thực tế thì lại khá nghèo nàn.” Khu nhà tự xây dựng này là một không gian kín, và những người thuê nhà cũng luôn thay đổi liên tục; số lượng tàn thuốc tích tụ theo thời gian thật sự rất nhiều.

Nhìn thấy Lão Hiền cho đầy túi chứa bằng chứng, tôi cảm thấy đầu mình như sắp nổ tung.

“Chẳng lẽ tất cả những thứ này đều phải mang về để kiểm tra sao?” tôi hỏi.

Anh Minh lắc đầu: “Những người trẻ tuổi trong độ tuổi 20, có mức thu nhập không cao, họ sẽ không hút thuốc cao cấp, nhưng cũng không hút loại thuốc quá tồi. Chất lượng của các loại thuốc thông thường thường được phân loại dựa trên giá thành – khoảng 5 đồng, 10 đồng, 15 đồng, 20 đồng, v.v. Dựa vào mức chi tiêu của kẻ sát nhân, có lẽ loại thuốc giá khoảng 10 đồng là loại mà anh ta thường xuyên sử dụng. Hiện nay, trên nhiều tàn thuốc đều in có logo thương hiệu; chúng ta có thể loại bỏ một phần những tàn thuốc này dựa vào thương hiệu, sau đó xem còn lại bao nhiêu.”

Sau khi trở lại đơn vị, chúng tôi áp dụng phương pháp “sàng lọc theo thương hiệu” và đã loại bỏ được 3/4 số tàn thuốc. Ngay cả khi chỉ còn lại 1/4, số lượng vẫn lên đến hơn hai mươi cái. Hơn hai mươi tàn thuốc đồng nghĩa với việc có DNA của hơn hai mươi người; nếu không có mẫu so sánh, dù chúng ta tiến hành phân tích từng cái một, cũng chẳng có ích gì cả.

Điều khiến chúng tôi ngạc nhiên là, sau khi biết kết quả, Anh Minh lại cho tất cả chúng tôi nghỉ ba ngày. Mỗi khi gặp phải bế tắc trong công việc, anh ấy thường thích ở lại văn phòng để suy nghĩ về các vấn đề còn tồn tại; chúng tôi nghĩ lần này cũng sẽ giống như mọi khi, nhưng điều khiến mọi người ngạc nhiên là, ngay sau khi chúng tôi rời đi, Anh Minh đã cầm câu cá và rời khỏi phòng làm việc.

“Chuyện gì đang xảy ra vậy? Tại sao anh ấy lại đi mất rồi? Chẳng lẽ vụ án này không được tiếp tục giải quyết nữa sao?” Phan Lai thắc mắc, trong khi đó đèn hậu chiếc xe cũ của Anh Minh đã biến mất từ

Anh Minh giải thích: “Việc bán thuốc lá có tính chất rất địa phương hóa; những loại thuốc này đều được bán với giá khoảng 10 nhân dân tệ tại khu vực Hồ Nam. Quốc Hiền, cậu hãy mở từng gói thuốc ra và kiểm tra xem trong đống tàn thuốc có loại nào mang cùng thương hiệu không. Nếu có, hãy lấy ra để kiểm định.”

  Nghe anh Minh nói vậy, cuối cùng tôi cũng hiểu ý định của anh ấy. Số điện thoại của nghi phạm thuộc vùng Thành Đô, Hồ Nam, và người này nói tiếng Quan thoại không chuẩn xác lắm. Nếu giả định anh ta thường trú tại Hồ Nam, thì chắc chắn anh ta sẽ quen với hương vị của thuốc lá địa phương.

  Những người thường xuyên hút thuốc đều biết rằng, những loại thuốc có giá khoảng 10 nhân dân tệ thường do các công ty địa phương độc quyền sản xuất; việc mua chúng ở nơi khác khá khó khăn. Đối với những người đã quen với hương vị của một thương hiệu cụ thể, trong phạm vi ngân sách cho phép, họ hiếm khi thay đổi thương hiệu đó.

  Trong quá trình điều tra, chúng tôi thường gặp trường hợp nghi phạm mua một số lượng lớn thuốc lá địa phương trước khi bỏ trốn đến nơi khác. Vì việc mua thuốc lá trên đường vận chuyển khá bất tiện, nhiều tài xế có thói quen tích trữ thuốc lá.

  Thực tế, công việc điều tra chính là quá trình liên tục đưa ra giả thuyết và kiểm chứng chúng. Chúng tôi giả định nghi phạm đến từ Hồ Nam, và sau đó lại tìm thấy trong những chiếc tàn thuốc những loại thuốc lá địa phương của Hồ Nam… Tỷ lệ xảy ra sự trùng hợp như vậy còn thấp hơn cả việc trúng số. Có câu nói rất đúng: “Loại bỏ tất cả những khả năng không thể xảy ra; những gì còn lại, dù có vẻ không thể xảy ra đến đâu, cũng chính là sự thật.”

  Mặc dù anh Minh đã cung cấp những mẫu để so sánh, nhưng việc kiểm định thông qua tàn thuốc lại khó hơn nhiều so với chúng tôi tưởng tượng. Ví dụ, ở nhiều nơi, một thương hiệu thuốc lá có thể có nhiều mức giá khác nhau, và yếu tố quyết định mức giá thường chỉ là chất lượng của lá thuốc. Rất ít nhà máy sản xuất thuốc lá thay đổi loại tàn thuốc được sử dụng cho cùng một mức giá. Nếu thuốc lá có logo thương hiệu in trực tiếp trên thân thuốc, thì khi thuốc cháy hết, những chiếc tàn thuốc còn lại sẽ trông giống nhau hoàn toàn.

  Nếu muốn thực sự phân biệt được thương hiệu của thuốc lá thông qua tàn thuốc, chúng ta chỉ có thể tập trung vào phần lọc bên trong. Khi bóc bao bì ngoài của tàn thuốc ra, chúng ta sẽ thấy phần ruột bên trong được làm từ bọt xốp màu vàng, được tạo thành từ sợi polypropylene. Trong quá trình kiểm định, chúng tôi cần đo đ

Điều mà không ai trong chúng tôi có thể ngờ đến là, kết quả so sánh tự động cho thấy bản đồ DNA của nghi phạm có độ trùng hợp rất cao với bản đồ DNA của vợ Hải Anh, là Pei Chūnnan. Lão Hiền, một chuyên gia trong lĩnh vực kiểm tra sinh học, khi nhìn thấy điều này, đã ngay lập tức liên hệ với phòng kỹ thuật của cục cảnh sát từng phụ trách điều tra vụ án “Đài Lộ”. Bởi theo yêu cầu của quy trình điều tra, dù là vụ giết người hay tự tử, miễn là có liên quan đến tính mạng con người, các kỹ thuật viên đều phải lấy mẫu sinh học của nạn nhân để lưu trữ.

Lão Hiền đã tìm thấy mẫu máu của Pei Chūnnan được lưu trữ trong tủ lạnh của phòng chứng cứ. Bước tiếp theo mà ông cần thực hiện là một xét nghiệm khá phức tạp – so sánh DNA ty thể.

Bất kỳ ai học qua sinh học đều biết rằng ty thể là một loại bào quan tồn tại trong hầu hết các tế bào, đóng vai trò quan trọng trong quá trình hô hấp có oxy và sản xuất năng lượng cho tế bào. ATP (adenosine triphosphate) được tạo ra bởi ty thể chính là nguồn năng lượng cho các hoạt động vận động của chúng ta. DNA ty thể là vật chất di truyền nằm bên trong ty thể, có dạng chuỗi xoắn kép. Mỗi ty thể chứa một hoặc nhiều phân tử DNA ty thể, và những phân tử này có khả năng tự sao chép.

Chúng ta đều biết rằng kiểu gen nhiễm sắc thể Y hoàn toàn được thừa hưởng từ cha, vì vậy việc phân tích kiểu gen nhiễm sắc thể Y có thể giúp xác định nguồn gốc gia tộc. Tuy nhiên, DNA ty thể lại khác; nó chỉ được truyền từ mẹ sang con thông qua dòng dõi mẹ. Nam giới cũng có thể thừa hưởng DNA ty thể từ mẹ, nhưng không thể truyền nó cho con cái của mình. Nếu một người phụ nữ chỉ sinh con trai, chuỗi di truyền DNA ty thể của bà ấy sẽ kết thúc ở đó; do đó, DNA ty thể đóng vai trò quan trọng trong việc xác định nguồn gốc dòng dõi mẹ.

Sau khi hiểu rõ đặc điểm của DNA ty thể, công việc của Lão Hiền là so sánh DNA ty thể của nghi phạm với DNA của Pei Chūnnan. Nếu hai bản đồ DNA hoàn toàn trùng hợp với nhau, điều đó sẽ chứng minh rằng DNA ty thể của kẻ sát nhân và Pei Chūnnan đến từ cùng một người mẹ. Kết quả xét nghiệm cuối cùng đã xác nhận rằng họ là anh chị em ruột thịt.

Người điều tra từng phụ trách vụ án “Đài Lộ” đã từng tìm ra một manh mối quan trọng: Pei Chūnnan thực sự có một người em trai mà bà ấy không hề liên lạc, tên là Đổng Triết, làm nghề tài xế xe tải. Theo manh mối này, nghi phạm Đổng Triết đã bị bắt sau 3 ngày.

Vào thời điểm đó, trên bàn ăn của người dân nông thôn, những món phổ biến nhất chính là dưa muối và bánh bao. Tuy nhiên, mọi chuyện đều có ngoại lệ, và cậu bé Giải Khải khi còn nhỏ chính là một người may mắn. Cha của anh ta tên là Giải Văn Lượng, một người gốc tỉnh Giang Tô. Trong quá khứ, tổ tiên của ông đã phải chạy trốn khỏi nơi cư trú ban đầu và di cư đến Vân Tịch. Là một người ngoại địa, để thực sự hòa nhập vào môi trường mới, không còn cách nào khác ngoài việc cố gắng hết sức. Ông nội của Giải Khải hiểu rõ điều này, và cha của anh cũng vậy. Vào mùa vụ cày cấy, họ ra đồng làm việc; trong thời gian rảnh rỗi, họ tìm cách kiếm thêm thu nhập từ các công việc lao động khác. Những hoạt động giải trí hay thư giãn hầu như không bao giờ xuất hiện trong cuộc sống của Giải Văn Lượng. Nhiều người đều biết đến danh tiếng của “thương nhân Giang Tô”; Giải Văn Lượng, sinh ra trong vùng đất giàu lúa gạo, cũng đã kế thừa được tinh thần kinh doanh của người dân quê hương mình.

Dù làng mà Giải Văn Lượng sống rất nghèo, nhưng điều đó không có nghĩa là không hề có cơ hội kinh doanh. Thói quen ăn uống của người Trung Quốc tuân theo nguyên tắc “phía nam ăn cơm, phía bắc ăn mì”. Vân Tịch nằm ở miền bắc, vì vậy thức ăn chính ở đây là bánh bao và bánh màn thầu. Giải Văn Lượng, sinh ra ở Giang Tô, từ nhỏ đã thích ăn cơm; sự khác biệt về thói quen ăn uống này đã giúp ông nhận ra cơ hội kinh doanh. Ông nhớ lại một loại đồ ăn vặt mà mình thường xuyên ăn khi còn nhỏ – bánh gạo nướng với đường nâu.

Đường nâu được sản xuất từ nước ép mía, còn gạo lứt được nấu chín trong nồi, sau đó được cắt thành những miếng vuông nhỏ, rắc đường nâu lên trên, bọc lại bằng giấy dầu và đặt lên những cái rổ tròn để bán. Kỹ năng làm bánh của Giải Văn Lượng rất tốt; những miếng bánh mềm mịn này có thể kéo dài đến nửa mét khi bạn cắn vào. Hương vị của chúng thậm chí còn ngon hơn hàng nghìn lần so với bánh tangyuan ngày nay. Người dân miền bắc ít khi ăn cơm, vì vậy bánh gạo nướng với đường nâu thực sự là một món ăn đặc biệt quý giá đối với họ, và những đứa trẻ cũng rất thích món này. Tuy nhiên, Giải Văn Lượng không muốn những chiếc bánh mà mình tự làm bị coi là đồ ăn vặt thông thường; mỗi khi bán hàng, ông đều dùng sơn để ghi rõ lợi ích của bánh, như giúp giữ ấm cơ thể, bảo vệ dạ dày, hỗ trợ phục hồi sức khỏe sau khi sinh...

Trong những tháng rảnh rỗi sau mùa vụ, Giải Văn Lượng làm bánh vào ban ngày

Bánh gạo của Giải Văn Lượng dù ngon nhưng giá cả cũng không hề rẻ; phải dùng đến 1 cân phiếu lương mới có thể đổi được một miếng bánh gạo. Mỗi ngày, Giải Văn Lượng chỉ làm 100 miếng bánh, và chúng đều được bán hết trước khi trời tối. Những phiếu lương 100 cân này, sau khi trừ đi chi phí sản xuất là 40 cân, ông vẫn kiếm được 60 cân lợi nhuận. Nếu tính theo giá hiện tại là khoảng 2 nhân dân tệ mỗi cân gạo, việc kiếm được 100 nhân dân tệ mỗi ngày đối với Giải Văn Lượng quả thực là điều dễ dàng. Số tiền này, ngay cả trong thời điểm hiện tại, cũng ngang bằng với mức lương hàng tháng của một công chức ở thị trấn nhỏ.

Vì cha giàu có, con trai là Giải Khải cũng được hưởng lợi từ điều đó. Đối với nhiều đứa trẻ khác, bánh gạo đường nâu được coi là một món “đồ xa xỉ”, nhưng đối với Giải Khải, đó chỉ là một món ăn vặt dễ dàng có được để no bụng mà thôi. Mẹ của Giải Khải đã mắc phải một căn bệnh mãn tính kể từ khi sinh anh ra, và khó có thể sinh thêm con nữa. Trong mắt cha mẹ, Giải Khải còn được yêu thương hơn cả “thái tử”; chỉ cần anh muốn ăn gì, dù Giải Văn Lượng có bận rộn với việc kinh doanh hay không, ông cũng sẽ luôn đáp ứng mong muốn của con trai mình. Vì vậy, tuổi thơ của Giải Khải rất sung túc.

Gia đình Giải Văn Lượng rất giàu có, nhưng vì là người ngoại địa, ông không dám phô trương sự giàu có của mình, và cũng luôn nhắc nhở con trai không được khoe khoang ở nơi công cộng. Giải Khải cũng luôn tuân theo lời dạy của cha. Chỉ nhìn vào cách ăn mặc, anh cũng giống như những đứa trẻ cùng trang lứa, mặc đồ rách rưới. Tuy nhiên, “nền kinh tế quyết định tầng lớp xã hội”; khi một người có tiền, tư duy và suy nghĩ của họ cũng sẽ hoàn toàn khác biệt. Với vẻ ngoài giống nhau nhưng tư duy khác nhau, có lẽ đó chính là điều khiến tuổi thơ của Giải Khải trở nên khác biệt so với những đứa trẻ khác.

Mỗi lần cùng cha đi bán bánh gạo, làng Tiên Hoài luôn là điểm dừng đầu tiên của họ. Lúc đó, bánh gạo vừa mới ra lò, hương vị còn rất ngon; khi mở tấm vải dầu ra, mùi thơm của gạo cùng với vị ngọt của đường nâu gần như lan tỏa khắp cả làng. Sự quyến rũ của món ăn này khiến rất ít người có thể kiềm chế được bản thân; ngay cả những người đàn ông làm việc nông nghiệp trong làng cũng có không ít người đã thử qua hương vị của bánh gạo. Tuy nhiên, mọi chuyện đều có ngoại lệ; Giải Khải, người luôn chú ý đến mọi thứ, đã để ý đến một cô bé. Mỗi lần cha anh mang bánh gạo vào sân gianh ở đầu làng, cô bé đều

Cô bé nhìn bóng lưng anh ta một cách nửa tin nửa ngờ. Giải Khải đi lại không đều, thỉnh thoảng lại vẫy tay gọi cô bé. Dưới sự thúc đẩy của lòng tò mò, cuối cùng cô bé cũng đứng dậy và bắt đầu đi theo hướng Giải Khải.

Cha của Giải Khải là một doanh nhân; theo quan niệm “rồng sinh ra rồng, phượng sinh ra phượng, chuột sinh ra con biết đào hang”, việc Giải Khải đi theo cha bán bánh kếp cũng có thể được coi là đang tham gia vào công việc kinh doanh. Điều tối kỵ nhất trong kinh doanh chính là làm hỏng danh tiếng của mình; nếu thông tin “tặng bánh kếp miễn phí” lan truyền ra ngoài, chắc chắn sẽ gây ra nhiều lời đồn đại không hay. Vì vậy, Giải Khải cần phải tìm một nơi không ai có mặt ở đó.

Ở rìa làng Tiên Hoàng Cây có một cây hoàng cây hàng nghìn năm tuổi; người ta nói rằng nơi đó đã từng có người bị sét đánh chết, vì vậy không ai dám đến đó. Trên người Giải Khải đeo một chiếc vòng ngọc trừ tà mà cha anh ta đã mua với giá rất cao; người ta nói rằng chiếc vòng này có thể chống lại mọi loại khí xấu, vì vậy với chiếc vòng này, Giải Khải không hề sợ hãi trước những điều liên quan đến ma quỷ, và ông ta cũng không hề coi trọng cái cây hoàng cây hàng nghìn năm tuổi đó.

Cô bé đi theo Giải Khải một quãng đường khá dài, khi cô bé phát hiện ra phía trước là khu đất cấm – đền Tiên Hoàng Cây, cô bé lập tức dừng bước và quay đầu muốn quay trở lại.

“Nan Nan, đừng đi.” Giải Khải lấy chiếc vòng ngọc ra từ cổ áo mình và nói: “Đừng sợ, theo tôi đi, chiếc vòng này có thể trừ tà.”

Cô bé đứng yên tại chỗ, luôn giữ khoảng cách 10 mét so với Giải Khải.

Không còn cách nào khác, Giải Khải chỉ có thể lấy ra hai miếng bánh kếp đường đen từ túi mình: “Đây là cho bạn đấy, không cần phải trả tiền.” Dù sao thì cô bé cũng mới chỉ có năm sáu tuổi mà thôi; sức hấp dẫn của thức ăn ngon là điều mà cô bé không thể cưỡng lại được. Cô bé nuốt nước bọt và hỏi một cách yếu ớt: “Thật sự là cho tôi à?”

Giải Khải gật đầu chắc chắn: “Đúng vậy, là cho bạn đấy. Có hai miếng đây, nhưng bạn không được để người khác thấy. Theo tôi vào bên trong hàng rào của đền Tiên Hoàng Cây, sau đó tôi sẽ cho bạn ăn.”

“Thật sao?” Cô bé mừng rỡ.

“Nếu tôi lừa bạn, tôi sẽ là một chú chó nhỏ xấu xa.”

Lần này, cô bé không từ chối nữa; cô bé đi theo Giải Khải, bước qua những ngọn mộ cao để leo vào bên trong hàng rào.

“Trời ạ, cây này thật to lớn… Lần đầu tiên tôi đến đây đấy.” Giải Khải ngước nhìn và thốt lên.

“Người lớn trong làng chúng tôi đều không cho chúng tôi đến đây; họ nói rằng ng

“Đến gần hơn một chút nữa, bạn đứng sát bên tôi nhé.” Ở độ tuổi đó, Giải Khải tự nhiên không hề có ý định lợi dụng cô bé; anh chỉ lo rằng nếu cô bé đứng xa anh mà bị sét đánh trúng, anh sẽ khó giải thích với người nhà sau này.

Còn đối với cô bé, cô ấy cũng không nghĩ quá nhiều; lúc này, cô chỉ muốn thử xem món bánh gạo đường nâu mà mọi người gọi là “món ngon của thiên đường” này có ngon đến mức nào.

Dưới gốc cây lớn, hai đứa trẻ đứng sát vai nhau; nhưng dù vậy, Giải Khải vẫn cảm thấy lo lắng, nên anh đã nắm lấy tay cô bé và nói một cách nghiêm túc: “Tôi sẽ nắm tay bạn, như vậy lớp bảo vệ trên người tôi sẽ được truyền sang bạn, và bạn sẽ không sao đâu.”

Cô bé dường như tin vào lời nói về lớp bảo vệ mà Giải Khải đặt ra; cô không cảm thấy có điều gì không ổn khi anh nắm tay trái mình.

Sau khi đảm bảo rằng xung quanh không ai, Giải Khải lấy ra hai miếng bánh gạo đã bị nén méo: “Đây, cho bạn.”

Cô bé e thẹn giơ tay phải ra, và Giải Khải đặt hai miếng bánh vào lòng bàn tay cô: “Nhanh ăn đi, lát nữa sẽ không ngon nữa đâu.”

Cô bé gật đầu ngượng ngùng, nhưng sau một lúc, cô lại đưa trả lại một miếng cho Giải Khải: “Tôi ăn một miếng là đủ rồi.”

“Ôi, đừng từ chối tôi nhé… Nhà tôi chuyên làm món này đây; nếu tôi muốn ăn, bố tôi có thể làm cho tôi đến 100 miếng luôn… Cứ để bạn ăn đi.” Nói xong, Giải Khải lại đưa miếng bánh kia cho cô bé.

Cô bé cảm ơn và cho miếng bánh thứ hai vào túi.

“Tại sao lại cất đi?”

“Tôi muốn mang về nhà ăn.”

“Không cần đâu; nếu bạn muốn ăn, ngày mai tôi sẽ lấy cho bạn lại.”

“Tôi… cảm ơn…”

“Không cần cảm ơn đâu… Nhanh ăn đi, bánh sắp lạnh hết rồi.”

Vì tay trái của cô bé đang được Giải Khải nắm giữ, cô chỉ có thể dùng tay phải từ từ mở lá giấy bọc bánh ra. Khi miếng bánh mềm mại mới vừa lộ ra, mùi thơm ngon đã khiến cô không thể kiềm chế được… Cô e thẹn quay đi một chút, và rất nhanh sau đó, tiếng “răng cắn bánh” vang lên… Lần đầu tiên Giải Khải ăn bánh gạo, anh cũng đã phát ra âm thanh tương tự; cảm giác không muốn ngừng ăn đó, lúc này lại xuất hiện ở cô bé.

Một miếng bánh không lớn lắm, chỉ cần ba hoặc năm cái miếng là ăn hết… Chẳng mấy chốc, xung quanh chỉ còn lại tiếng gió thổi qua các bụi cỏ… Giải Khải quay đầu nhìn lại, thấy cô bé đang cẩn thận lau những vết dầu trên môi bằng lòng bàn tay mình.

“Ngon không?”

Anh ấy hỏi.

Cô bé gật đầu mạnh mẽ: “Ngon lắm, tôi chưa bao giờ ăn thứ ngon như thế này.”

“Đó là bí quyết truyền thống của gia đình tôi; ngoài nhà chúng tôi ra, không ai có thể làm được ngon như vậy,” Giải Khải chỉ vào túi cô bé và nói: “Em chắc chắn không muốn ăn miếng này à? Nếu để lâu hơn nữa, nó sẽ không còn ngon nữa đâu.”

Cô bé lắc đầu nhẹ và nói ra sự thật: “Tôi muốn mang miếng này về cho bà nội mình.”

“Bà nội ư? Nhà em còn ai nữa không?” Giải Khải hỏi một cách tình cờ.

“Chỉ có tôi và bà nội thôi.”

“Vậy bố mẹ em đâu?”

“Tôi không biết, chưa bao giờ gặp họ.”

Giải Khải đã từng có một thời gian rất nghịch ngợm; bất cứ thứ gì bố mẹ anh cho, anh đều ăn một chút rồi bỏ lại. Mẹ anh thường dùng một câu nói để dạy dỗ anh: “Con sống trong giàu có mà không biết trân trọng; những đứa trẻ không có bố mẹ thì không bao giờ có cơ hội được ăn những thứ như thế này đâu.” Khi bị mẹ mắng, Giải Khải mới chỉ bốn, năm tuổi; anh không hiểu rõ những đứa trẻ không có bố mẹ phải sống như thế nào. Cho đến khi anh gặp cô bé nghèo khó này, anh mới thực sự hiểu được nỗi buồn của những đứa trẻ đó.

Mặc dù mới chỉ 7 tuổi rưỡi, nhưng bản năng bảo vệ người yếu đuối đã ăn sâu vào tiềm thức Giải Khải. Anh lấy miếng bánh gạo ra khỏi túi cô bé và nói: “Cứ thoải mái ăn đi nhé, sau này tôi sẽ mang cho em hàng ngày đấy.”

Ánh mắt cô bé lấp lánh; vì không có bố mẹ, những đứa trẻ trong làng thường bắt nạt cô ấy. Từ nhỏ đến lớn, chưa bao giờ có ai đối xử tốt với cô ấy như vậy. Mặc dù mới gặp nhau lần đầu, nhưng cô bé đã coi Giải Khải là người bạn đáng tin cậy nhất của mình.

Sau lần chia tay đó, hai người bắt đầu gọi nhau bằng những cái tên riêng. Mẹ của Giải Khải vì quá nuông chiều con trai, thường gọi anh là “Nhỏ Cua”. Tên thật của cô bé là Bùi Xuân Nam, hay còn gọi là Nam Nam; Giải Khải liền đặt cho cô bé biệt danh là “Nhỏ Bí Ngô”. Vì cô bé nhỏ hơn Giải Khải, việc gọi anh là “Nhỏ” có vẻ không phù hợp, nên cô bé đổi thành gọi anh là “Anh Cua”.

Ở nhà, Giải Khải thường xuyên ăn bánh gạo như một món ăn vặt; dù thiếu đi vài miếng, Giải Văn Lượng cũng không hề quan tâm. Để không khiến cha mình nghi ngờ, Giải Khải thường đặt ra những tín hiệu bí mật để cô bé biết phải đến dưới gốc cây hoàng đàn vào lúc nào. Sau khi giúp cha bán bánh xong, anh sẽ lấy cớ đi chơi để gặp cô bé dưới gốc cây đó. Dần dần, hai người trở thành bạn thân từ thuở nhỏ nh

Gia đình của Bèi Xuân Nãn rất nghèo khó; trong lòng cô ấy, chỉ có việc học hành mới có thể thay đổi số phận, vì vậy Bèi Xuân Nãn quyết định tiếp tục đi học. Vì con đường cuộc đời đã thay đổi, hai người từ đó chia tay nhau, và trong một thời gian dài, Giải Khải suýt nữa quên mất dung mạo của Bèi Xuân Nãn.

Khi chất lượng cuộc sống của mọi người được cải thiện, kinh doanh bánh gạo nâu đường càng trở nên khó khăn hơn. Sau khi suy nghĩ kỹ lưỡng, Giải Văn Lương quyết định chuyển sang làm nghề khác. Vì vậy, anh ta quyết đoán sử dụng số tiền tiết kiệm nhiều năm để mua một cửa hàng ở thị trấn và bắt đầu kinh doanh các loại thực phẩm khô.

Vào giữa những năm 1980 của thế kỷ 20, tủ lạnh vẫn còn là thứ hiếm có; lúc đó, cách duy nhất để bảo quản thực phẩm là biến chúng thành thực phẩm khô. Những miếng thịt gà khô, cá muối là những lựa chọn ưa chuộng của nhiều gia đình. Mua một ít thịt muối, khi muốn ăn chỉ cần cắt ra một đoạn, vừa tiết kiệm dầu muối vừa giúp thỏa mãn cơn thèm ăn. Khi cửa hàng mới mở cửa, lượng khách hàng đổ xô vào mua sắm đã một lần nữa chứng minh tài năng kinh doanh của Giải Văn Lương.

Sau khi có cửa hàng riêng, dù công việc có bận rộn đến đâu, vợ chồng Giải Văn Lương vẫn có thể xoay sở được. Nhiệm vụ hàng ngày của Giải Khải là vào buổi sáng lái xe ba bánh giúp cha mình vận chuyển hàng hóa, còn lại thời gian anh ta có thể tự do sắp xếp.

“Tôi nhớ Tiểu Bí Ngô đã nói với tôi rằng cô ấy đã đỗ vào trung học cơ sở ở thị trấn… Dù sao thì cũng không sao cả, liệu tôi có nên đi tìm cô ấy không?” Mỗi khi rảnh rỗi, Giải Khải thường tự hỏi mình điều này.

Thị trấn cách làng khá xa, việc về nhà rất bất tiện; vì vậy hầu hết học sinh đều chọn ở trường. Trong thị trấn nhỏ này có 3 trường trung học cơ sở, và sau khi hoàn thành công việc, Giải Khải thường lang thang quanh cổng trường, nhưng đáng tiếc là dù anh ta đã tìm kiếm hơn một tháng trời, anh vẫn không thấy bóng dáng của Bèi Xuân Nãn.

Mỗi trường học đều có căn tin và ký túc xá được xây dựng ngay trong khuôn viên trường học; nếu không có thẻ học sinh, nhân viên bảo vệ tại cổng trường sẽ nghiêm cấm người ngoài vào. Điều đó có nghĩa là, nếu Bèi Xuân Nãn không ra khỏi trường, dù Giải Khải có cố gắng đến mức nào thì cũng không thể gặp được cô ấy. Sau nhiều lần thử không thành công, Giải Khải dần dần từ bỏ ý định đó. Trong lúc chán chường, anh chỉ có thể hàng ngày vung cây gậy bằng vải để xua đuổi ruồi bọ tại quầy hàng của mình.

Có một câu nói rất đúng: “Có ý nuôi hoa

Giải Khải mỉm cười nói: “Cửa hàng này chính là nhà tôi mở đấy.”

“Không lạ gì khi tôi về làng vào kỳ nghỉ mà không tìm thấy bạn; hóa ra cả gia đình bạn đã chuyển đến thị trấn rồi.”

“Bạn đã từng đi tìm tôi à?”

Hai người đều đã bước vào tuổi trẻ trung đầy rung động; khi được hỏi như vậy, Pei Chūnnán cảm thấy má mình nóng bừng lên và không biết phải trả lời thế nào.

Giải Khải, sau khi lớn lên, đã từ một “kẻ chỉ biết buôn bán nửa vời” trở thành một “chuyên gia kinh doanh thực thụ”; khả năng quan sát và đọc suy nghĩ của người khác của anh ấy cũng đã được rèn luyện đến mức hoàn hảo. Dựa vào phản ứng của Pei Chūnnán, anh ấy có thể chắc chắn rằng cô ấy đã từng đến làng để tìm mình. Những ký ức thời thơ ấu lại hiện lên trước mắt anh ấy; sau một khoảng thời gian suy nghĩ, Giải Khải đã đặt ra câu hỏi đầy ý nghĩa nhất:

“Nhỏ Củ Đậu Hà Lan, em vẫn muốn ăn bánh gạo nâu đường không?”

Lần này, Pei Chūnnán không trốn tránh nữa; cô dũng cảm đối mặt với ánh mắt của Giải Khải và trả lời một cách kiên định: “Muốn, em mơ về nó cũng muốn.”

“Ngày mai là Chủ nhật, tại chỗ cũ nhé?”

Pei Chūnnán gật đầu mạnh mẽ, sau đó đứng dậy và rời đi.

Giải Khải, với nụ cười trên môi, dần trở nên mờ ảo phía sau lưng Pei Chūnnán. Cô cúi đầu và đi mãi, đi mãi… Sau một thời gian dài, đôi mắt cô bỗng nhiên ửng lệ. Kể từ khi bước vào trung học cơ sở, cô gần như đã mất liên lạc với Giải Khải; cô đã không ít lần đến làng để tìm anh ấy, nhưng mỗi lần đều chỉ thấy cánh cổng đóng chặt. Nếu nói rằng trong trái tim mọi người phụ nữ cuối cùng đều có một người đàn ông, thì người đàn ông đó đã từ lâu đã “định cư” trong trái tim Pei Chūnnán từ thời thơ ấu. Trong những năm tháng tuổi thơ đầy bất an ấy, chính Giải Khải đã mang đến cho cô những ký ức đẹp đẽ nhất. Lúc bấy giờ, trường học của họ đang lan truyền những tiểu thuyết tình cảm của Qiongyao; tình yêu nam nữ không còn là những câu chuyện e thẹn được kể bên tai lúc đi ngủ nữa. Sự tự do tư duy đã khiến nhiều học sinh bắt đầu trải nghiệm hương vị của tình yêu ngay từ thời trung học cơ sở. Dù vẻ ngoài của Pei Chūnnán không phải là xinh đẹp xuất chúng, nhưng ít nhất cô cũng xứng đáng được coi là một trong những nữ sinh đẹp nhất trường. Trong hai năm, cô đã từ chối không dưới 20 người theo đuổi mình; cộng thêm tính cách hướng nội của mình, cô cũng được các bạn học cùng trường đánh giá là “nữ sinh khó theo đuổi nhất trong trường”. Tuy

Trên chiếc xe buýt nhỏ, hai người ngồi cách nhau một người trước một người sau phía cuối xe. Pei Chunnan luôn cúi đầu, trong khi Hải Khai thì lợi dụng ánh sáng phản chiếu từ cửa sổ để lén lút nhìn ngắm “Cậu bé Nhỏ Bí Ngô” mà anh đã không gặp nhiều năm rồi.

Suốt chuyến đi, hai người không hề trò chuyện với nhau. Khi xe đến trạm, Pei Chunnan lại đi trước vài chục mét, sau đó Hải Khai mới cẩn thận theo sau. Để tránh gặp người quen, họ cố tình đi đường vòng; Pei Chunnan đi lúc nhanh lúc chậm, còn Hải Khai thì đi theo tốc độ không đều, cảnh tượng này khiến ký ức của họ bỗng nhiên trở về tuổi thơ.

Có tổng cộng ba con đường dẫn vào đền Tiên Hoa, hai người đã đi qua đó hàng ngàn lần từ khi còn nhỏ. Ngôi mộ mà họ thường xem như “bệ đỡ” cho đôi chân mình vẫn đứng vững ngay tại đó.

“Xin lỗi… Xin lỗi.” Mỗi lần trước khi vượt tường, hai người đều chắp tay cúi đầu xin lỗi ngôi mộ đó. Dù đã lâu không làm như vậy, nhưng khi trở lại môi trường quen thuộc, họ vẫn bất chợt thực hiện động tác đó một cách tự nhiên.

Khi bước vào trong sân, những “gông cùm” đang đè lên đầu họ lập tức biến mất. Hải Khai mỉm cười và đưa tay ra: “Tôi có một chuỗi ngọc, có thể trừ tà, sẽ bảo vệ bạn.” Pei Chunnan ngập ngừng một chút, sau đó tự nhiên đặt tay vào lòng bàn tay anh.

Hải Khai không hề cảm thấy ngạc nhiên; anh mỉm cười lấy ra hai miếng bánh gạo đường đỏ từ túi mình: “Tôi tự làm đấy, hãy thử xem.”

Khi nghe thấy câu “tự làm”, Pei Chunnan vô thức nắm chặt tay anh. Hải Khai cảm nhận được sức mạnh đến từ trái tim cô; anh siết chặt tay cô hơn nữa.

Lần này, Pei Chunnan không mở lá giấy dầu như mọi khi; cô nhìn Hải Khai đầy tình cảm và từ từ nói: “Anh Cua ơi, em đã đến nhà anh rất nhiều lần, nhưng anh không có ở nhà. Em tưởng mình sẽ không bao giờ gặp lại anh nữa.”

Nghe cô nói vậy, Hải Khai bỗng cảm thấy xấu hổ. So với những ngày họ mất liên lạc, ngoại trừ vài lần nhớ đến cô, anh dường như không quá quan tâm đến tình hình của cô. Việc đến trường tìm cô cũng chỉ là ý định xuất phát từ sự nhàm chán mà thôi.

Dù sự thật là như vậy, nhưng anh không thể nói ra như vậy. Hải Khai nghĩ ra một lời giải thích và trả lời bằng giọng thấp: “Em cũng đã đến trường tìm anh, nhưng vì không có thẻ học sinh nên người bảo vệ ở cổng trường không cho em vào.” Nói xong, anh cố tình tỏ vẻ bất đắc dĩ, khiến Pei Chunnan mỉm cười.

“Anh thường xuyên ở cửa hàng à?” Pei Chunnan hỏi tiếp.

“Chỉ cần em muốn gặp anh

“Có bao nhiêu khả năng em sẽ đậu vào trường trung cấp chuyên nghiệp không?”

“Nếu không có gì thay đổi, chắc chắn sẽ không thành vấn đề.”

Giải Khải vô cùng mừng rỡ, bởi vì nếu Pei Chūnnán được nhận vào trường trung cấp chuyên nghiệp, điều đó có nghĩa là cô ấy sẽ mãi mãi gắn bó với Vân Tịch. Nếu hai người sau này có tương lai với nhau, chỉ cần lòng họ vẫn còn dành cho nhau, việc họ đến bên nhau chỉ là vấn đề thời gian mà thôi.

**Hai mươi ba…**

Những ai đã từng trải qua tình yêu trong khuôn viên trường đại học đều biết rằng nó chỉ có hai kết quả: thứ nhất là làm ảnh hưởng đến việc học và tương lai; thứ hai là vừa có tình yêu vừa thành công trong sự nghiệp. Không cần phải suy đoán, Pei Chūnnán thuộc về trường hợp thứ hai. Kẻ thù lớn nhất của tình yêu trong trường đại học chính là sự “quá gắn bó”. Hãy thử tưởng tượng, nếu những cặp đôi đang yêu nhau sống cùng nhau trong khuôn viên trường, chỉ cách nhau vài phút đã thấy nhớ da diết, suốt giờ học chỉ nghĩ đến “anh ấy tốt thì em cũng tốt”, thì thật là kỳ lạ nếu việc học không bị ảnh hưởng. Nhưng Pei Chūnnán và Giải Khải thì khác; một người ở trong trường, một người ở bên ngoài. Pei Chūnnán gần như cả tuần đều ở lại trong lớp học, không ra ngoài chút nào, nhưng đến cuối tuần, với sự đồng hành của Giải Khải, áp lực học tập sau 6 ngày dường như tan biến hoàn toàn; giống như một động cơ đã nóng lên, cần phải dừng lại để nguội bớt. Loại tình yêu này không hề ảnh hưởng đến việc học của Pei Chūnnán, mà ngược lại còn rất có lợi cho cô ấy.

Một năm sau, Pei Chūnnán đã đậu vào trường trung cấp chuyên nghiệp sản xuất giấy. Trong thời đại đó, khi chưa có điện thoại di động, máy tính hay dữ liệu lớn, mọi thông tin đều được lưu trữ trên giấy; vì vậy, các trường đào tạo liên quan đến ngành sản xuất giấy thực sự rất được ưa chuộng, và trường trung cấp chuyên nghiệp sản xuất giấy được coi như “Đại học Thanh Hoa, Đại học Bắc Kinh” trong số các trường trung cấp chuyên nghiệp.

Vào buổi chiều ngày nhận được thông báo trúng tuyển, Pei Chūnnán không về nhà; cô muốn chia sẻ niềm vui này với Giải Khải ngay lập tức. Khi đến đền Tiên Hoàng, trời đã bắt đầu tối dần, nhưng hai người dường như có rất nhiều điều muốn nói với nhau. Bóng đêm buông xuống, ánh trăng mượt mà như tơ lụa, mặt đất trở nên mờ ảo. Giải tỏa được áp lực, Pei Chūnnán không thể kiềm chế được cảm xúc trong lòng mình; cô đứng dậy, từ từ tiến lại gần Giải Khải.

Dù ở thời điểm nào, hormone ở nam giới luôn mạnh mẽ hơn nữ giới. Khi hơi thở

“Tôi muốn cùng em ngắm trăng.” Pei Chūnnán nằm trong vòng tay của Giải Khải và thốt lên câu nói tình yêu mà các đôi yêu nhau thường hay nói vào thời điểm đó. Lúc bấy giờ chưa có rạp chiếu phim, chưa có nhà hàng Tây, việc nắm tay nhau ban ngày sẽ bị mọi người bàn tán; chỉ có công viên dưới ánh trăng mới là lựa chọn lý tưởng nhất cho các cặp đôi. Đối với họ, khung cảnh đẹp nhất chính là khi hai người tựa vào nhau, ngồi ở góc khuất không ai qua lại và ngước nhìn bầu trời đầy ánh trăng sáng ngời.

Dưới sự nuôi dưỡng của tình yêu, lượng adrenaline tiết ra trong cơ thể Giải Khải tăng lên đáng kể. Anh chỉ vào ngọn cây và nói với Pei Chūnnán: “Em nhỏ ơi, sao chúng ta không lên cây xem? Như vậy sẽ gần trăng hơn.”

“Lên cây à? Cao như vậy ư?” Mặc dù Pei Chūnnán nói vậy, nhưng trong lòng cô vẫn cảm thấy hứng thú.

“Không sao đâu, anh có cách đâu.” Giải Khải vào trong đền, mang ra một cái bàn thờ dài, sau đó chọn một chỗ trũng và đặt bàn thờ chắc chắn dưới gốc cây. “Được rồi, chúng ta cứ bước lên từ đây thôi.”

Pei Chūnnán không từ chối. Dưới sự hỗ trợ của Giải Khải, cô đã thành công leo lên cành cây to nhất. Thời đó không có những tòa nhà cao tầng, mọi nơi đều là những ngôi nhà lợp ngói thấp; sự chênh lệch về độ cao khiến tầm nhìn trở nên thoáng đãng hơn. Khi hai người ngồi trên cành cây, làn gió nhẹ thổi qua mặt, cảnh tượng trước mắt dường như chỉ xuất hiện trong những câu chuyện cổ tích.

Không biết đã trôi qua bao lâu, tiếng côn trùng kêu và tiếng ếch hót dần dần im bớt, đêm khuya yên tĩnh bắt đầu buông xuống. Pei Chūnnán nằm trong vòng tay của Giải Khải và chìm vào giấc ngủ… Đêm đó, chính những cành cây to lớn của cây hoàng hòa đã nâng đỡ tình yêu non nớt của họ.

**24**

Cuộc sống ở trường trung cấp nghề khó khăn hơn nhiều so với những gì Pei Chūnnán tưởng tượng. Từ thứ Hai đến thứ Sáu, học sinh phải học lý thuyết; thứ Bảy và Chủ Nhật thì đi thực tập tại nhà máy. Phương pháp kết hợp giữa lý thuyết và thực hành này khiến hai người ít khi có thời gian bên nhau. Mặc dù Giải Khải sống ở thị trấn, nhưng mỗi khi nhớ đến Pei Chūnnán, anh luôn đến đền Hoàng Hòa để tìm niềm an ủi. Khi ở một mình, anh cảm thấy thiếu đi sự lãng mạn và thay vào đó là nỗi cô đơn; chỉ có khi lên cao nhìn xa mới có thể xoa dịu tâm hồn mình. Đứng trên đỉnh cây, anh có thể nhìn thấy tòa nhà học tập 6 tầng của trường trung cấp nghề… Tòa nhà đó dường như chính là hiện thân của Pei Chūnnán. Nhưng Giải Khải, người đang chịu đự

Ánh nắng mặt trời chiếu xuyên qua lỗ trên đỉnh đầu, những vệt sáng trắng xóa làm tan biến bóng tối dưới đáy hang. “Bên trong cái cây này rỗng à?” Giải Khải chà xát mắt, chắc chắn rằng mình không nhìn nhầm.

Lúc này, anh cách mặt đất chưa đầy 2 mét; sau khi đảm bảo an toàn, anh buông lỏng những sợi dây leo và nhảy xuống. “Chẳng lẽ đây chính là nơi ở của thần cây sao?” Giải Khải vừa hồi hộp vừa thích thú. Anh rất thích đọc tiểu thuyết võ hiệp, và theo những gì được miêu tả trong sách, những nơi cô lập như thế này chắc chắn phải ẩn chứa những bí mật kinh ngạc.

Giải Khải bình tĩnh lại, sau khi ổn định tâm trạng, anh bắt đầu di chuyển từ từ dọc theo thành cây. Diện tích bên trong hang chỉ khoảng mười mét vuông, và không mất quá nhiều thời gian, anh đã quay trở lại điểm xuất phát.

“Chỉ là một cái hang cây thôi, chẳng có gì cả.” Sự tò mò của anh dần tan biến, và mặt trời cũng sắp lặn. “Nếu không nhanh lên, hôm nay tôi sẽ phải ở lại đây qua đêm mất.” Nghĩ đến điều đó, Giải Khải không dám trì hoãn nữa, anh nắm lấy hai sợi dây leo và dùng hết sức lực để bám vào và leo lên. Bức tường ẩm ướt của cây đầy rẫy nấm và rêu; sau hơn nửa giờ cố gắng, cuối cùng anh cũng thoát ra ngoài ánh nắng mặt trời. Để ngăn người khác gặp phải tình huống tương tự, anh mang về một cái nắp nồi gỗ và đậy lên lỗ hang.

Sự cố rơi xuống hang chỉ là một tình tiết nhỏ, vì vậy Giải Khải chưa bao giờ kể cho ai nghe về chuyện đó. Có câu nói: “Ai sống sót sau tai họa lớn, chắc chắn sẽ gặp may mắn sau này.” Nhà máy sản xuất giấy trên đường Lão Sơn do cần mở rộng sản xuất nên đang rất cần tuyển thêm nhân viên; nhóm sinh viên của Pei Chūnnán được miễn một năm thực tập và ngay năm thứ hai đã được tuyển dụng.

Hai mươi lăm tuổi…

Hai người đã có sự thỏa thuận rằng ngay khi Pei Chūnnán bắt đầu đi làm, Giải Khải sẽ nhờ người mai mối để đề nghị kết hôn. Kế hoạch ban đầu là ba năm, nhưng giờ đây nó đã được rút ngắn xuống còn hai năm – đây chắc chắn là một tin vui lớn.

Trong việc kết hôn, người ta coi trọng ý kiến của cha mẹ và người mai mối. Trong mắt người mai mối, một bên là cô gái có công việc ổn định, còn bên kia là con trai của một gia đình doanh nhân thành đạt; nếu không kể đến những yếu tố khác, chỉ riêng về điều kiện bề ngoài thì đã đủ để nói rằng hai bên “xứng đôi với nhau”.

Vào tháng thứ ba kể từ khi Pei Chūnnán chính thức đi làm, nhờ sự mai mối của người dìu dắt, hai gia đình đã ngồi cùng một bàn ăn. Bữa tiệc chỉ có sáu người th

Nhà máy sản xuất giấy ở phố Lao Sơn được xây dựng ở vùng ngoại ô, cách ngôi nhà cũ của Giải Khai chỉ khoảng mười cây số. Để thuận tiện cho cuộc sống hàng ngày của hai người, Giải Khai quyết định sửa sang ngôi nhà cũ thành phòng cưới. Đề xuất này đã bị cha mẹ anh phản đối; họ cho rằng nếu con trai muốn có tương lai tốt đẹp thì việc ở lại thị trấn là lựa chọn tốt nhất.

Tất nhiên, Giải Khai hiểu suy nghĩ của cha mẹ mình, nhưng so với họ, anh quan tâm hơn đến cảm xúc của Bùi Xuân Nam. Bùi Xuân Nam từ nhỏ đã không có ai chăm sóc, chính bà ngoại mới nuôi dưỡng cô bé lớn lên. Nếu Bùi Xuân Nam chuyển đến thị trấn sống, bà ngoại của cô ấy chắc chắn sẽ cô đơn và không ai giúp đỡ. Hơn nữa, còn có ngôi đền Tiên Hoài – nơi gắn bó sâu sắc với tình cảm của họ; mỗi khi ghé thăm đó, họ lại nhớ về những kỷ niệm đẹp đẽ. Vì vậy, Giải Khai kiên quyết muốn ở lại đó. Vào ngày 8 tháng 12 âm lịch năm đó, Giải Khai cưỡi chiếc xe “Êr Bát Đại Kàng” mới toanh, dưới sự chứng kiến của bạn bè và người thân, đã đưa Bùi Xuân Nam về nhà làm vợ. Năm đó, Bùi Xuân Nam vừa tròn 20 tuổi.

Đơn vị làm việc của Bùi Xuân Nam là nhà máy sản xuất giấy lớn nhất tỉnh Vạn Nam vào thời điểm đó; sản phẩm giấy do nhà máy sản xuất luôn khan hiếm, và hàng ngày có rất nhiều xe tải xếp hàng chờ đợi để lấy hàng ngay tại cổng nhà máy, kéo dài đến vài km. Trong thời đại đó, công nghệ còn chưa phát triển, nên hiệu quả kinh doanh của nhà máy và mức độ lao động của công nhân luôn tỷ lệ thuận với nhau; doanh số tốt đồng nghĩa với việc công nhân phải làm việc chăm chỉ hơn, và Bùi Xuân Nam cũng không ngoại lệ. Cha mẹ Giải Khai từng hy vọng rằng sau khi con cái kết hôn, họ sẽ sớm có cháu trai, nhưng trước thực tế, mong muốn đó buộc phải tạm thời bị gác lại.

Trong khi Bùi Xuân Nam bận rộn với công việc, Giải Khai cũng không ngừng nỗ lực. Việc lập gia đình đồng nghĩa với việc phải bắt đầu xây dựng sự nghiệp; anh không thể tiếp tục sống lêu lổ như trước đây nữa. Mỗi buổi sáng, sau khi đưa Bùi Xuân Nam đi làm, Giải Khai sẽ đi xe buýt trở về thị trấn để giúp cha mẹ quản lý cửa hàng. Để làm quen với các khâu trong quy trình kinh doanh, từ việc mua nguyên liệu đến việc giao hàng, hầu như tất cả đều do anh đảm nhận.

Năm đầu tiên của cuộc sống bận rộn nhưng đầy ý nghĩa đã trôi qua; Bùi Xuân Nam trở thành quản lý phòng sản xuất, còn Giải Khai cũng chính thức tiếp quản quyền quản lý cửa hàng từ cha mẹ mình. Trước mắt mọi người, cuộc h

Năm đó, bà ngoại 93 tuổi của Pei Chunnan đang nằm trên giường, sức khỏe ngày càng yếu đi. Vào ban đêm, với đôi mắt mờ nhòa, bà đã gọi Pei Chunnan đến bên giường mình.

“Chunnan à, những năm qua con đã phải chịu khổ rất nhiều.”

Pei Chunnan ngồi bên cạnh giường, đôi mắt đỏ hoe. Cô đã thấy tình trạng sức khỏe ngày càng xấu đi của bà từ lâu, nhưng khi đối mặt với cái chết, cô chỉ biết khóc lặng mà không thể làm gì được.

“Đừng khóc, không có gì đáng để khóc đâu. Trước khi ra đi, bà muốn nói với con một điều… Điều này bà đã giấu kín trong lòng suốt 30 năm rồi; đã đến lúc bà phải nói ra.”

Pei Chunnan không còn là đứa trẻ nữa. Suốt nhiều năm, cô và bà sống cùng nhau. Cô đã đoán được điều bà sắp nói, nên cô chỉ im lặng mà ngồi đó.

Bà tiếp tục nói: “Khi tôi 15 tuổi, tôi đã kết hôn với ông nội của con. Năm 17 tuổi, ông nội con bị bắt đi làm lao động cưỡng bức. Khi Nhật Bản xâm lược Trung Quốc, tôi phải trốn chạy khắp nơi. Khi quân Nhật bị đẩy lùi, tôi biết rằng ông nội con có lẽ sẽ không bao giờ trở về nữa. Sau đó, tôi cùng với những người dân trong làng đến làng Xiān Huái và ở đó suốt hàng chục năm. Sau bao năm lang thang, tôi đã quên mất quê hương mình ở đâu, cũng không biết người thân của mình còn sống hay đã chết. Mỗi khi đến các dịp lễ Tết, nhìn thấy những gia đình khác đầy ắp niềm vui, trái tim tôi lại cảm thấy cô đơn vô cùng.”

“Năm 63 tuổi, bà Cài trong làng đã hỏi tôi liệu có muốn nhận một đứa trẻ để nuôi già không. Lúc đó, tôi nghĩ rằng sức khỏe của mình vẫn tốt, có thể sống thêm vài mươi năm nữa, nên tôi đã đồng ý. Sau đó, bà Cài đã đưa tôi đến một khe núi tên là Đậu Gia Yáo vào ban đêm, và tôi đã nhận con từ tay cha con, ông Đậu Sī Thành. Lúc đó, cha con không hề không muốn có con, nhưng gia đình quá nghèo, mẹ con lại mắc phải căn bệnh nan y; nếu giữ con lại nhà, con cũng sẽ chết đói thôi. Vì vậy, họ mới nghĩ đến việc xin người khác nuôi con. Khi tôi mang con về nhà, mẹ con đã nằm trên giường và ngất đi vì khóc quá nhiều. Cha con quỳ xuống trước mặt tôi và liên tục nói: ‘Con ơi, ba mẹ xin lỗi con…’ Thấy cảnh đó, tôi cũng không nỡ lòng, nên tôi đã để lại cho cha con một địa chỉ, nói rằng nếu ông ấy nhớ con, bất cứ lúc nào cũng có thể đến tìm. Nếu sau này ông ấy muốn công nhận mối quan hệ cha con, tôi cũng sẽ không ngăn cản. Dù sao thì tôi cũng chỉ là một người già

Vì vậy, tôi suy nghĩ mãi rồi cuối cùng đã đến nhà gia đình Đổ ở Đỗ Gia Yáo để tìm bố mẹ bạn. Bố bạn là người tốt; khi tôi mang bạn đi lúc đó, mẹ bạn chỉ còn thoi thở được. Lần này tôi đến, bố bạn nói với tôi rằng ông đã dẫn mẹ bạn đi chữa trị suốt hơn mười năm, và bệnh tình cuối cùng cũng có tiến triển tốt hơn. Bố mẹ bạn không phải không nhớ đến bạn, chỉ là bạn đã lớn thành người rồi, họ không dám đến nhận bạn. Hơn nữa, lúc đó mẹ bạn cũng đang mang thai, và sau này tôi nghe nói là sinh được một bé trai. Giờ tính ra, bé cũng khoảng mười lăm, mười sáu tuổi rồi.

Lần tôi đến tìm bố mẹ bạn, tôi sợ rằng nếu mình không còn nữa, bạn vẫn sẽ còn một niềm hy vọng. Bố mẹ bạn cũng đã nói trước mặt tôi rằng, miễn là bạn sẵn lòng đến, họ chắc chắn sẽ nhận bạn là con gái của mình.

Bà nói xong, rồi lấy ra một tấm ảnh từ trong lòng áo: “Đây là bức ảnh chung của gia đình bố mẹ bạn. Họ sống ở nhà số 34, Đỗ Gia Yáo, cửa hướng nam. Bạn hãy giữ kỹ tấm ảnh này.”

Pei Chūnnán nhận lấy tấm ảnh, nước mắt tuôn trào như thác đổ khỏi khuôn mặt cô.

Sau khi tôi đi rồi, dù bạn có muốn nhận họ là cha mẹ hay không, bạn cũng nên đến nhà họ một lần, ít nhất cũng để giữ lại một ký ức gì đó.

Pei Chūnnán gật đầu mạnh mẽ: “Được, bà ơi, cháu hứa với bà.”

Bà nở một nụ cười nhẹ qua những nếp nhăn trên khuôn mặt, âu yếm vuốt ve đầu Pei Chūnnán: “Cháu gái đừng khóc nữa, đến đây, để bà nhìn kỹ cho… nhìn kỹ một chút.”

Lúc này, Pei Chūnnán không thể kiểm soát nổi nỗi buồn trong lòng nữa; cô úp mặt vào lòng bà và khóc nức nở.

Hai mươi sáu…

Nửa tháng sau, bà ngoại của Pei Chūnnán được an táng tại ngôi mộ mới được xây dựng không lâu trước đó. Theo lời mong muốn của bà, Pei Chūnnán tự mình đến nơi mà bà sinh ra – Đỗ Gia Yáo. Trong mắt Pei Chūnnán, dù cha mẹ ruột của cô có đưa cô đi vì lý do gì đi nữa, cô cũng không thể dễ dàng chấp nhận họ. Mục đích của cô đến đây rất đơn giản: chỉ để thực hiện lời mong muốn cuối cùng của bà ngoại mình.

Đỗ Gia Yáo nằm trong một thung lũng hẻo lánh; Pei Chūnnán phải đi ba chuyến xe buýt nhỏ và thêm nửa giờ đi xe ba bánh mới tìm được địa điểm chính xác. Khi bước vào thung lũng, đi qua một cây cầu đá, và hỏi thăm vài người dân đường, Pei Chūnnán cuối cùng cũng đến trước cửa nhà số 34, Đỗ Gia Yáo.

Từ nhỏ, Pei Chūnnán sống cùng bà ngoại; trong làng, gia đình họ nghèo nhất, chắ

“À đúng rồi, cậu làm nghề gì vậy?” Cậu bé hỏi.

Pei Chūnnán lấy ra một tấm ảnh và đưa cho cậu bé xem. Sau khi nhìn qua, cậu bé bất ngờ hét lên: “Cô là chị gái của tôi à?”

“Chị gái? Làm sao cậu biết tôi là chị gái của mình?”

“Bố mẹ tôi đã kể với tôi rằng tôi còn có một người chị gái ruột sống ở ngoài núi; họ nói rằng một ngày nào đó chị ấy sẽ mang theo ảnh về nhà. Khi cô vào nhà, tôi lập tức nhận thấy chúng ta giống nhau, vậy nên chắc chắn cô chính là chị gái của tôi!”

Pei Chūnnán mỉm cười và đồng ý với suy nghĩ của cậu bé. “Cậu tên là gì vậy?”

“Chị ơi, tôi tên là Đổ Triệt.”

“Cậu bao nhiêu tuổi rồi?”

“Mười sáu tuổi.”

“Cậu vẫn đang đi học phải không?”

“Gia đình tôi không đủ khả năng chi trả học phí, nên tôi không đi học nữa.”

“Vậy thì hàng ngày cậu làm gì để kiếm sống?”

“Tôi lên núi hái củi và làm than củi.”

Pei Chūnnán không tiếp tục hỏi thêm nữa. Nhìn thấy Đổ Triệt với bộ quần áo rách rưới, trong lòng cô không khỏi cảm thấy đau lòng. Cô kết hôn với Hạ Khải được 10 năm nhưng vẫn chưa có con. Lúc đó y học chưa phát triển, nên không tìm ra nguyên nhân cụ thể. Sau này, khi cô đến bệnh viện lớn ở thành phố tỉnh, các bác sĩ nói rằng nguyên nhân cô không thể sinh con có thể liên quan đến môi trường sống của cô. Nhà máy sản xuất giấy là một doanh nghiệp gây ô nhiễm nặng; sau khi trở về từ bệnh viện, cô bắt đầu nghi ngờ rằng căn bệnh của mình có liên quan đến nhà máy đó. Giờ đây, cô đã 30 tuổi rồi; nếu vài năm nữa vẫn không có con, có lẽ cô sẽ rất khó có thể mang thai được nữa. Năm ngoái, khi làng được di dời, cô và Hạ Khải đã nhận được hai căn hộ; cùng với cửa hàng bán đồ khô kinh doanh thuận lợi ở thị trấn, họ gần như không cần lo lắng về vấn đề tài chính nữa. Mặc dù lương ở nhà máy sản xuất giấy khá cao, nhưng vì sự nghiệp của thế hệ sau, cô vẫn nghĩ đến việc nghỉ việc. Cô đã bàn về ý định này với Hạ Khải, và sau khi hiểu rõ hoàn cảnh, anh ấy không chỉ không phản đối mà còn rất ủng hộ.

Nếu không gặp Đổ Triệt hôm nay, Pei Chūnnán có lẽ đã quyết định nghỉ việc tại nhà máy trong vòng hai tháng tới. Nhưng hôm nay, cô lại nghĩ đến một giải pháp khác – đổi công việc. Nhà máy sản xuất giấy trên phố Laoshan là một doanh nghiệp nhà nước; với tư cách là nhân viên chính thức, Pei Chūnnán sở hữu một vị trí công việc tại đó. Vào thời điểm đó, việc đổi công việc trong các doanh nghiệp nhà nước là điều kh

Mặc dù cha mẹ đẻ của cô ấy không thực hiện trách nhiệm nuôi dưỡng, nhưng rõ ràng họ là người đã mang cô ấy ra đời sau mười tháng mang thai vất vả. Ân huệ của việc sinh ra con cũng là một ân huệ lớn. Nếu để cô ấy chứng kiến người mẹ ruột của mình phải sống trong cảnh nghèo khó, trong khi bản thân mình lại sống trong sự giàu có, cô ấy chắc chắn không thể làm được điều đó. Có câu nói “Đưa cá cho người ta không bằng dạy họ cách câu cá”. Những khoản tiền được tặng đi rồi cũng sẽ đến lúc hết, thay vì như vậy, tốt hơn hết là giúp họ tạo ra con đường dẫn đến sự giàu có. Như vậy, vừa là cách để trả ơn, vừa là cách để gửi gắm lòng biết ơn đến linh hồn của bà ngoại.

Sau khi suy nghĩ kỹ lưỡng, Pei Chunnan quyết định đây là một giải pháp hai trong một, vì vậy cô ấy hỏi: “Đou Zhe, em có muốn đi làm kiếm tiền ở nơi xa xôi không?”

Nghe Pei Chunnan nói vậy, Đou Zhe vội vàng bỏ cuộc củi đang cầm trên tay xuống và nói: “Muốn chứ, làm sao không muốn? Thẻ căn cước của tôi sẽ được cấp vào tháng sau, tôi đã nói với mẹ mình rồi, đến lúc đó chúng tôi sẽ cùng mọi người trong làng đi làm xa xôi. Nghe nói ở nơi đó một tháng có thể kiếm được tám, chín trăm đồng, đó cao hơn nhiều so với việc tôi đốt than củi!”

“Tôi có thể tìm cho em một công việc với mức lương 2000 đồng mỗi tháng, em có muốn làm không?”

“Gì cơ? 2000 đồng à? Chị, chị đùa tôi đấy chứ!” Đou Zhe hét lên.

Pei Chunnan lấy giấy bút ra từ túi xách và viết một dòng chữ viết tay đẹp đẽ: “Em biết đọc chữ không?”

Đou Zhe lần lượt đọc lên: “Lao… Sơn… Giang… Tạo… Giấy… Xích… Nhà…”

“Đúng rồi, chính là nơi này. Nếu em quyết định được, vào ngày 10 tháng sau lúc 8 giờ sáng, tôi sẽ đợi em ở cửa nhà máy, tôi sẽ sắp xếp việc làm cho em ở đó. Nhớ nhé, tôi chỉ đợi em trong vòng hai giờ thôi.”

“Chị ơi… Em đang mơ đấy chứ? Em thật sự có thể đi làm ở thị trấn à?”

Pei Chunnan không trả lời, cô ấy lấy ra hai tờ tiền trăm đồng và nói: “Trước khi đi, hãy thay đổi quần áo mới, chuẩn bị sẵn ga trải giường, chăn, khăn tắm, cốc đánh răng… Sau này, có lẽ em sẽ không bao giờ trở lại cái thung lũng này nữa đâu.”

“Chị ơi… cái này…”

“Cầm lấy đi.” Pei Chunnan nhét tiền vào túi Đou Zhe rồi quay đi.

**Hai mươi bảy**

Kể từ khi biết đến sự tồn tại của gia đình Đou Zhe, Pei Chunnan luôn cảm thấy có những tình cảm phức tạp đối với họ. Bà ngoại cô ấy nói đúng, nếu như lúc

Cô ấy không muốn như vậy; cô ấy cảm thấy điều này thật sự không công bằng đối với bà ngoại mình. Kế hoạch ban đầu của cô ấy là dành một số tiền để trả ơn ân huệ sinh thành, sau đó sống xa cách mãi mãi. Việc sắp xếp việc làm cho Đậu Triết cũng chỉ là một quyết định tạm thời; cô ấy chỉ nghĩ rằng hành động đó là phù hợp nhất, chứ không hề có ý định lập kế hoạch gì cụ thể cho gia đình này. Vì vậy, thái độ của cô ấy đối với Đậu Triết khá lạnh lùng, và cô ấy cũng rời đi một cách quyết đoán.

Mỗi tháng ngày 10 là ngày trả lương của nhà máy giấy, và đây cũng được coi là ngày các nhân viên mới và cũ được thay phiên nhau làm việc. Bằng cách dùng 6 điếu thuốc, Bèi Xun Nam đã xử lý xong mọi việc liên quan đến bộ phận nhân sự; miễn là Đậu Triết đồng ý, anh ta có thể đến nhà máy làm việc ngay vào ngày 10. Tại nhà máy, Bèi Xun Nam giữ chức vụ phó trưởng phòng sản xuất, tức là một người có chức vụ tương đối cao. Theo “quy tắc ngầm” của việc “thay thế”, vị trí trong nhà máy có thể được giữ lại, nhưng chức vụ lãnh đạo chắc chắn phải được giao cho người khác; nếu không, người cha làm giám đốc nhà máy mà con trai mình lại tiếp tục giữ chức vụ đó, thì mọi thứ sẽ trở nên hỗn loạn. Vì vậy, Đậu Triết khi vào nhà máy chỉ có thể bắt đầu từ vị trí công nhân bình thường. Các công nhân cấp thấp tại nhà máy giấy phải tiếp xúc trực tiếp với nhiều chất gây ô nhiễm; Bèi Xun Nam đã từng chịu nhiều thiệt hại do điều này trong những năm qua, và cô ấy không muốn Đậu Triết phải trải qua điều tương tự. Khi cô ấy đang gặp khó khăn, trưởng bộ phận nhân sự đã chỉ cho cô một hướng đi: tham gia đội vận chuyển.

Trong thời đại mà giao thông còn chưa phát triển, đội vận chuyển chính là yếu tố then chốt quyết định sự sống còn của một nhà máy. Khả năng thu hồi vốn nhanh chóng của nhà máy phụ thuộc hoàn toàn vào tốc độ di chuyển của xe cộ. Mặc dù đội vận chuyển đóng vai trò quan trọng trong nhà máy, nhưng việc phải thường xuyên di chuyển trong điều kiện khắc nghiệt cũng khiến nó trở thành vị trí khó giữ chân người lao động. Tuy nhiên, đối với Đậu Triết, đội vận chuyển lại là lựa chọn lý tưởng nhất. Thứ nhất, anh ta đang độc thân, nên việc phải ra ngoài làm việc suốt 365 ngày mỗi năm cũng không khiến anh ta e ngại. Thứ hai, tham gia đội vận chuyển sẽ giúp anh ta học được một kỹ năng nào đó; ngay cả khi sau này anh ta rời nhà máy giấy, việc biết lái xe cũng sẽ giúp anh ta tìm được việc làm ở bất cứ nơi đâu. Cuối cùng, mức lương tại đ

“Tôi sẽ sắp xếp cho cậu làm việc trong đội vận chuyển của nhà máy. Chỉ cần cậu chịu khó được, mỗi tháng cậu có thể kiếm được ba bốn nghìn nhân dân tệ.”

“Tôi chắc chắn sẽ làm được…”

“Hãy nghe tôi nói hết đã.” Pei Chunnan giọng lớn ngắt lời anh ta, “Tôi không quan tâm liệu cậu có chịu nổi khó khăn hay không. Việc tôi sắp xếp cho cậu là công việc chính thức của nhà máy. Trừ khi cậu muốn trở lại sống ở những ngọn núi hẻo lánh kia, nếu không thì dù khó khăn và mệt mỏi đến đâu, cậu cũng phải cố gắng chịu đựng, hiểu chưa?”

“Hiểu rồi!”

“Tốt, bây giờ tôi sẽ đưa cậu đi làm thủ tục. Nếu không có sự cho phép của tôi, cậu đừng nói chuyện với ai cả. Và sau này, đừng bao giờ nói rằng tôi là chị gái của cậu trước mặt bất kỳ ai, nếu không sẽ gây ra rất nhiều rắc rối đấy, hiểu chưa?”

“Rõ rồi.”

“Cậu thấy cánh cổng lớn kia chứ?” Pei Chunnan chỉ vào những chữ in bằng thép “Nhà máy sản xuất giấy Lão Sơn” và hỏi.

“Thấy rồi.”

“Sau khi bước vào đó, con đường phía trước sẽ do cậu tự mình đối mặt. Không ai sẽ giúp đỡ cậu, kể cả tôi.”

Nói xong, Pei Chunnan không quan tâm liệu Dou Zhe có hiểu ý mình hay không, liền quay người đi về phía bộ phận nhân sự. Có một câu nói rất đúng: “Nếu không quyết đoán, chắc chắn sẽ gặp rắc rối.” Khi thủ tục hoàn tất, “nghĩa vụ nuôi dưỡng” của cô ấy cũng coi như đã hoàn thành; từ nay về sau, cô ấy và gia đình Dou sẽ không còn nợ nần gì với nhau nữa. Nếu Dou Zhe là người có khả năng, công việc này chắc chắn sẽ giúp gia đình Dou thoát khỏi cảnh nghèo khó. Nhưng nếu anh ta không thể làm gì được, dù cô ấy có bao nhiêu tiền đi nữa cũng không thể che đậy được những thiếu sót đó. Pei Chunnan cư xử lạnh lùng như vậy chính là để khiến Dou Zhe từ bỏ hy vọng.

Dou Zhe liên tục phải đối mặt với những lời nói khiến anh ta cảm thấy thất vọng; anh cúi người và làm theo yêu cầu của Pei Chunnan, điền đầy đủ các biểu mẫu cần thiết, sau đó nhận được một bộ đồng phục màu xanh lam từ bộ phận hậu cần.

“Thủ tục đã hoàn tất. Ngày mai buổi sáng lúc 8 giờ, hãy đến đội vận chuyển để báo danh đúng giờ.” Pei Chunnan nói xong, rồi lấy ra một chiếc chìa khóa từ túi mình, “Phía sau nhà máy giấy có khu ký túc xá dành cho nhân viên, giá thuê là 30 nhân dân tệ mỗi tháng. Tôi đã trả tiền thuê nhà cho cậu một tháng rồi; chìa khóa này có gắn số nhà. Sau này, cậu hãy mang quần áo và đồ đạc của mình vào ký túc xá. Nhà hàng

Đậu Triết không biết phải diễn đạt cảm xúc biết ơn trong lòng như thế nào, vì vậy khi Bùi Xuân Nam sắp bước ra cửa, Đậu Triết đã cúi chào sâu sắc trước lưng người vợ mình.

**Hai mươi tám**

Về mọi chuyện liên quan đến gia đình Đậu, Bùi Xuân Nam chưa hề đề cập một lời nào với Giải Khải, bởi vì cô ấy hiểu rất rõ tính cách của chồng mình – người luôn yêu thích mọi thứ liên quan đến gia đình. Nếu anh ấy biết được sự thật, có lẽ không mất nhiều thời gian để anh ấy coi gia đình Đậu như gia đình mình, và điều này là điều mà Bùi Xuân Nam không muốn chứng kiến.

Sau khi nghỉ việc, Bùi Xuân Nam trở thành chủ nhân của một cửa hàng bán đồ khô. Lối sống “ông làm việc ngoài, bà lo việc nhà” này thoải mái hơn nhiều so với khi cô làm việc ở nhà máy. Mỗi buổi sáng lúc 7 giờ, sau khi ăn sáng xong, Bùi Xuân Nam mặc áo len vào dọn dẹp cửa hàng, trong khi Giải Khải thì lái xe ba bánh đi giao hàng.

“Con rồng sinh ra con rồng, con phượng sinh ra con phượng; vợ chồng Giải Văn Lương là những người am hiểu kinh doanh, và sau khi được hướng dẫn, Giải Khải cũng vậy. Kể từ khi cha mẹ ông nghỉ hưu về quê, cửa hàng đồ khô do ông quản lý đã phát triển rất tốt.” Thành phố này nằm ở miền Bắc, và đối với người dân nơi đây, hải sản chính là một món xa xỉ tuyệt đối. Việc thưởng thức hải sản chủ yếu tập trung vào “độ tươi mới”; trong thời kỳ khi dịch vụ giao hàng nhanh chưa phổ biến, ở thành phố này, ngoại trừ tôm hùm và hạt dưa biển, hầu như không có các loại hải sản khác. Mặc dù không thể ăn hải sản tươi sống, nhưng việc mua hải sản khô vẫn hoàn toàn khả thi.

Giải Khải đã đi du lịch xuống miền Nam để tìm hiểu thực tế, và sau khi thử nghiệm một số món ăn, ông quyết định thay đổi hoàn toàn danh mục hàng hóa của cửa hàng, từ việc chủ yếu bán “gà khô và cá muối” sang các loại hải sản khô như hàu, sò điệp, mực, hải sâm…

Theo quan điểm của nhiều người, kinh doanh đồ khô chỉ là một ngành nghề với vốn đầu tư nhỏ, không cần phải tốn nhiều công sức. Nhưng với một xe đầy hải sản khô, chi phí vận chuyển đã là một khoản tiền không nhỏ; việc tổ chức quảng bá mạnh mẽ như vậy có thể dẫn đến thất bại nặng nề.

Có câu nói: “Người can đảm sẽ thành công, người nhút nhát sẽ thất bại.” Sau một tháng ở miền Nam, Giải Khải đã thử nghiệm tất cả các món ăn có thể làm từ hải sản khô, và hương vị của chúng thực sự không thể so sánh được với thịt bò hay thịt cừu. Thành phố này là một thành phố công nghiệp nặng; đa số người dân ở đây không quá quan tâm đến việc mặc quần áo hay ở nhà như thế nào, nhưng đối

Do đặc điểm khí hậu, người miền Bắc thích vị cay nồng, trong khi người miền Nam lại ưa chuộng hương vị tươi mới và thơm ngon. Dù nhiều đầu bếp không mấy tin tưởng vào ý tưởng này, nhưng một điều đáng mừng đã xảy ra: các món hải sản khô do Giải Khai chế biến rất được phụ nữ yêu thích. Người Trung Quốc luôn coi trọng sự ưu tiên dành cho phụ nữ; vì lý do lịch sự, trước khi gọi món, mọi người thường hỏi ý kiến của phụ nữ trước. Và vì khẩu vị của phụ nữ thường thiên về vị thanh đạm, nên bước đầu tiên mà Giải Khai thực hiện khá thành công.

Người Trung Quốc rất quan tâm đến văn hóa ẩm thực; nghệ thuật nấu ăn không chỉ giúp con người no bụng mà còn là biểu hiện của trí tuệ. So với cách nấu ăn “thô bạo” của phương Tây, tám trường phái ẩm thực Trung Quốc thực sự mang nhiều giá trị sâu sắc hơn. Vì vậy, các đầu bếp Trung Quốc không bao giờ bị gò bó trong khuôn mẫu cố định khi sử dụng nguyên liệu. Mặc dù các công thức mà Giải Khai đưa ra có thể giúp các món hải sản khô được đưa lên bàn ăn, nhưng hương vị của chúng vẫn có chút khác biệt so với khẩu vị của người dân địa phương. Nguyên liệu là thứ cứng nhắc, nhưng đầu bếp là những người sống động; nếu xử lý đúng cách, ngay cả những nguyên liệu giống nhau cũng có thể đánh thức được vị giác của con người.

Nhà hàng đầu tiên áp dụng những công thức cải tiến này có tên là “Tiên Hoài Cư”, chủ nhân của nó là Đài Lộ, người sinh ra và lớn lên tại làng Tiên Hoài. Đài Lộ từ nhỏ đã theo cha mẹ đi lập nghiệp xa xứ, vì vậy dù cùng là người dân địa phương với Bối Xuân Nham, hai người không quá thân thiết lắm. Tuy nhiên, điều này không ngăn cản Giải Khai tận dụng mối quan hệ này để thiết lập mối liên kết. Việc Tiên Hoài Cư dám trở thành nhà hàng đầu tiên thử nghiệm những món mới, một phần cũng nhờ vào tình cảm thân thiện giữa những người cùng làng.

Giải Khai và Đài Lộ cùng tuổi; cả hai đều nhận thừa di sản từ người tiền nhiệm để mở nhà hàng, và vì cùng là người dân địa phương, Đài Lộ rất ủng hộ việc kinh doanh của Giải Khai. Những công thức cải tiến này đã giúp nhà hàng thu hút được nhiều khách hàng, và các món hải sản khô do Giải Khai chế biến cũng trở nên rất hot, đến mức không đủ cung cấp. Với lòng biết ơn, bất kể những nhà hàng khác có phàn nàn gì đi nữa, Giải Khai luôn đảm bảo rằng Tiên Hoài Cư sẽ luôn có nguyên liệu cung cấp đầy đủ. Con người ai cũng có tình cảm; sau khi giao lưu nhiều hơn, mối quan hệ giữa hai người cũng dần chuyển từ đối tác kinh doanh thành bạn bè thân thiết.

Đài Lộ rất thích kết bạn, tính cách của cô ấy giống hệt nhân vật Vương

Trang phục như thế này thực sự rất dễ khiến đàn ông nảy sinh những suy nghĩ không lành mạnh. Đài Lộ không hẳn xinh đẹp, nhưng lại có vẻ quyến rũ đặc biệt; đặc biệt là cách cô ấy đi lại với đôi mông cong tròn, điều đó thật sự khiến người ta khó kiềm chế được bản năng. Ngoài vẻ ngoài, tính cách của Đài Lộ cũng rất thoải mái; đối với những khách hàng có ý đồ không lành, cô ấy chẳng bao giờ để tâm đến, đôi khi cô ấy thậm chí còn cố tình ngồi vào lòng khách hàng để tỏ ra dịu dàng, đáng yêu và quảng bá đồ uống cho họ. Hãy thử tưởng tượng xem: một nhà hàng có khẩu vị ngon, lại có một nữ chủ nhân xinh đẹp và quyến rũ như vậy, làm sao kinh doanh không phát đạt được?

Những người phụ nữ như Đài Lộ thường rất giỏi trong việc quan sát và điều chỉnh hành động theo tình hình. Cô ấy cũng hiểu rõ rằng, trong vòng bạn bè của mình, chín trong mười người đều muốn đưa cô ấy lên giường để “giải tỏa” cơn thèm, còn người duy nhất không có ý đó chính là Giải Khai. Để có thể giảm giá thành sản phẩm xuống mức thấp nhất, Đài Lộ đã từng mời Giải Khai ăn uống vài lần riêng tư; dù cô ấy mặc đồ rất gợi cảm, Giải Khai vẫn không hề bị ảnh hưởng. Để kiểm tra xem Giải Khai chỉ là người giả vờ nghiêm túc hay thực sự là một người đàn ông đúng đắn, Đài Lộ đã cố tình giả vờ say và để Giải Khai đưa cô ấy vào phòng.

Chồng của Đài Lộ, Guo Tiểu Phi, là một người cực kỳ yếu đuối; ngay cả khi cô ấy công khai phản bội anh ta trước mặt mọi người, anh ta cũng không dám làm gì cả. Nếu ngày hôm đó là người khác, có lẽ quần áo của Đài Lộ đã bị xé tung rồi, nhưng Giải Khai không làm vậy. Anh ấy chỉ đơn giản là đưa cô ấy lên giường, bật điều hòa, rót một cốc nước nóng bên cạnh giường, sau đó lặng lẽ rời khỏi phòng.

Khi tiếng bước chân của anh ta dần xa, Đài Lộ mở to mắt và ngồd dậy trên giường. Cô ấy first vuốt ve đôi vú căng tròn của mình, sau đó vỗ nhẹ đôi mông săn chắc của mình, và cuối cùng cô ấy đưa ra kết luận: Giải Khai thực sự là một người đàn ông đúng đắn.

Những người phụ nữ sống trong những con hẻm đầy hoa lý thích câu nói này: “Hãy tranh thủ kiếm thật nhiều tiền khi còn trẻ; khi đã có đủ tiền rồi, hãy tìm một người đàn ông chung thủy để kết hôn.” Những người phụ nữ ham mê cuộc sống phóng khoáng thường thích những người đàn ông “chung thủy”; mặc dù chưa có chuyên gia nào nghiên cứu về điều này, nhưng thực tế đã chứng minh rằng câu nói đó hoàn toàn đúng. Kể từ lần th

Hai mươi chín

  Việc giỏi kết bạn chắc chắn là do ảnh hưởng từ cha mẹ cô; còn tính tình phóng đãng của cô thì lại liên quan đến chồng mình. Cuộc hôn nhân giữa cô và Guo Xiaofei hoàn toàn là ý tưởng của cha cô. Cha cô tên là Đài Bản Sơn, là một người có uy tín trong làng; ông và cha của Guo Xiaofei, Guo Jun, là anh em ruột thịt. Khi hai người kết nghĩa anh em, họ đã thề rằng nếu sau này họ có con cái, con trai sẽ trở thành anh em, con gái sẽ trở thành chị em dâu, và nếu có một nam một nữ thì họ sẽ kết hôn với nhau. Sau đó, trong một cuộc ẩu đả, Guo Jun đã che chở cho Đài Bản Sơn và bị thương nặng, khiến chân phải của ông bị cắt bỏ. Vì lý do này, Đài Bản Sơn luôn cảm thấy ân hận; đó cũng là lý do tại sao khi gia đình Guo Jun sa sút, Đài Bản Sơn vẫn kiên quyết muốn gả con gái mình cho họ.

  Tuy nhiên, đáng tiếc là Guo Xiaofei không hề kế thừa được tính cách mạnh mẽ của cha mình; sự yếu đuối ẩn sâu trong con người anh ta khiến Đài Lộ cảm thấy ghê tởm. Cuộc hôn nhân giữa họ khiến người ta liên tưởng đến cặp vợ chồng nổi tiếng trong lịch sử – Pan Jinlian và Wu Dalang.

  Đối với cuộc hôn nhân này, Đài Lộ đã từng phản đối, nhưng đối với một người như cha cô, những lời thề được coi quan trọng hơn cả mạng sống; kết quả của việc phản đối thì ai cũng biết là vô ích. Lý do Đài Bản Sơn dám cứng rắn như vậy là vì ông nắm trong tay “bí mật chiến thắng” – nhà hàng Tiên Hoàng Cây. Đài Bản Sơn nói với con gái mình: “Nếu con đồng ý với cuộc hôn nhân này, nhà hàng sẽ là của hồi môn cho con; nếu con không đồng ý, tôi cũng sẽ để nhà hàng cho Guo Xiaofei, để báo đáp ơn cứu mạng mà cha của anh ta đã giúp tôi.”

  Nhà hàng Tiên Hoàng Cây chính là nguồn thu nhập chính của gia đình Đài; Đài Lộ biết rằng với tính cách của cha mình, nếu cô không đồng ý, ông thực sự có thể sẵn lòng từ bỏ nó. Với suy nghĩ “đừng để của cải rơi vào tay người khác”, mẹ cô đã tìm đến Đài Lộ và nói: “Con gái yêu, chỉ cần con đồng ý, sau khi kết hôn xong, mẹ sẽ đưa ba con trở về quê nhà ở Đông Bắc để phát triển sự nghiệp; nếu sau này con và Guo Xiaofei thực sự không thể sống chung được, chúng ta cũng sẽ không ngăn cản. Người ta đã cứu mạng ba con, lời hứa của đàn ông giống như nước đã đổ ra ngoài, con không thể để ba con phụ lòng họ.” Đài Lộ suy nghĩ một hồi và thấy rằng điều đó cũng đúng; một khi cha mẹ cô rời đi, mọi chuyện sau này đều nằm trong tay cô. Sau một ngày suy nghĩ, Đài Lộ

Hôn nhân được sắp đặt từ trước, kết hợp mà không có tình cảm thực sự; trong đêm tân hôn, chỉ có Đài Lộ mới có thể đuổi chàng rể ra khỏi nhà. Cô sống trong một gia đình nam quyền từ nhỏ và vô cùng ngưỡng mộ cha mình; nếu không phải là con gái, có lẽ cô đã học cách cầm kiếm và phiêu lưu như cha mình từ lâu rồi. Trong suy nghĩ của cô, đàn ông nên giống như cha mình – mạnh mẽ, dám đối mặt với mọi thử thách. Nhưng Guo Xiaofei thì yếu đuối đến mức không dám đối đầu với bất cứ điều gì. Vào đêm tân hôn, Đài Lộ thậm chí còn nghĩ rằng nếu Guo Xiaofei dám cưỡng hiếp mình, cô cũng sẽ chấp nhận. Ai ngờ, trước những lời mắng nhiếc của cô, Guo Xiaofei lại liên tục nhường nhịn. Thái độ này khiến Đài Lộ cảm thấy ghê tởm.

Sau nửa năm kết hôn, cha mẹ của Đài Lộ trở về quê nhà ở Đông Bắc. Trong khoảng thời gian đó, Guo Xiaofei đã làm một việc khiến Đài Lộ cảm thấy vô cùng ghê tởm; chính vì điều này mà cô thà đánh đổi với người lạ còn hơn phải chung sống với kẻ yếu đuối như anh ta.

Một đêm nọ, khi Đài Lộ chuẩn bị đi ngủ sau khi thay đồ, cô bỗng nghe thấy tiếng “rên rỉ” phát ra từ phòng tắm. Cô lén lút đứng dậy và nhìn qua khe cửa phòng tắm, thì thấy Guo Xiaofei đang trần truồng, sử dụng chiếc tất lót vừa thay ra để tự thỏa mãn. Mặc dù cô cảm thấy Guo Xiaofei thật kỳ quặc, nhưng cô không dám chất vấn anh ta trước mặt. Bởi vì cô biết rằng tính cách yếu đuối của anh ta có thể khiến anh ta làm những điều vượt quá giới hạn; nếu anh ta nghĩ sai, cô cũng sẽ bị liên lụy.

Trước khi phát hiện ra thói quen này của Guo Xiaofei, Đài Lộ vẫn cảm thấy có chút áy náy về anh ta, nhưng sau sự việc đó, cô không còn để lại chút danh dự nào cho anh ta nữa. Là người nắm quyền điều hành nhà hàng, cô thường xuyên ra lệnh cho Guo Xiaofei, và đôi khi địa vị của anh ta còn thấp hơn cả nhân viên phục vụ trong nhà hàng.

Ban đầu, Đài Lộ dự định sẽ ly hôn với Guo Xiaofei ngay sau khi cha mẹ cô rời đi, nhưng khi họ thực sự đi rồi, cô lại thay đổi ý định. Cô biết rằng dù ly hôn vào lúc nào đi nữa, mình cũng sẽ bị gắn mác “phụ nữ đã qua sử dụng”. Việc chia tay Guo Xiaofei thì dễ dàng, nhưng nếu làm vậy, cô sẽ phải tự mình lo liệu mọi việc trong nhà hàng; điều này không chỉ khiến cô mệt mỏi mà còn khiến cô không có thời gian để tìm bạn đời mới. Vì vậy, trước khi tìm được người thích hợp, việc đề xuất ly hôn chắc chắ

Người ta thường nói rằng phụ nữ “ở tuổi ba mươi như sói, ở tuổi bốn mươi như hổ”. Khi Đài Lộ bước vào độ tuổi “như sói như hổ” ấy, tâm lý của cô ấy đã thay đổi hoàn toàn; hàng ngày, cô ấy chỉ nghĩ đến một điều: “Chẳng lẽ cuộc đời này mình sẽ gắn bó mãi với Gao Xiaofei sao?” Tất nhiên, câu trả lời là không. 90% doanh thu của nhà hàng đều đến từ công việc của Đài Lộ; trong những năm qua, cô ấy cũng đã tích lũy được khá nhiều tài sản. Còn Gao Xiaofei chỉ làm những công việc vặt trong nhà hàng, và bất kỳ ai cũng có thể thay thế anh ta; đối với cô ấy, mọi thứ đã sẵn sàng, chỉ còn thiếu một người bạn đời mà thôi.

Đài Lộ là một người nổi tiếng vì giỏi giao tiếp; những người đàn ông xung quanh cô ấy hầu như đều có những thói quen xấu như ăn uống, chơi bạc, cá cược… Nếu để mình gắn bó với họ, đồng nghĩa với việc tự đẩy mình vào tình thế nguy hiểm. Cô ấy chắc chắn sẽ không làm những việc thiệt thòi như vậy; bây giờ, cô ấy cần một người đàn ông mà mình yêu thích và không tham lam tiền bạc. Sau nhiều suy nghĩ, cô ấy cuối cùng đã chọn Lý Giải Khai làm mục tiêu.

Có ba lý do khiến Đài Lộ chọn Lý Giải Khai: Thứ nhất, Lý Giải Khai là người có phẩm chất tốt, việc chiếm được trái tim anh ta sẽ không gây ra vấn đề gì về gia đình; thứ hai, Lý Giải Khai cũng là một ông chủ, nếu hai cửa hàng liên kết với nhau, kinh doanh chắc chắn sẽ phát triển mạnh mẽ; thứ ba, dù vợ của Lý Giải Khai có vẻ ngoài xinh đẹp, nhưng so với cô ấy thì vẫn kém xa, và cô ấy tin rằng mình có thể vượt trội hơn cô ấy ấy.

Một tháng sau, Đài Lộ bắt đầu hành động của mình.

Vào lúc 9 giờ tối hôm đó, Đài Lộ như mọi khi đã mời Lý Giải Khai đến nhà hàng Xiān Huái Jū ăn kebap. Nhà hàng này là khách hàng quan trọng của Lý Giải Khai, vì vậy anh ấy thường không từ chối bất kỳ lời mời nào từ cô ấy.

Trong cuộc điện thoại, Đài Lộ nói với anh ấy rằng còn có vài người bạn nữa sẽ đến, nhưng khi Lý Giải Khai đến nơi, anh chỉ thấy Đài Lộ một mình đang uống rượu một mình. Vì vậy, anh hỏi: “Những người bạn kia đâu rồi?”

Đài Lộ giả vờ tức giận, vỗ mạnh vào mặt bàn và nói: “Đừng nói đến họ nữa… Tất cả đều là những kẻ không đáng tin cậy; họ đã hứa sẽ đến, nhưng lại bỏ cuộc chỉ vì một cuộc điện thoại.”

“Thôi thôi, đừng giận nữa… Anh đã đến rồi mà. Dù sao thì cửa hàng của anh cũng đã

“Không đâu, cô ấy gần đây hai ba năm nay luôn phải uống thuốc, và đi ngủ sớm vào buổi tối.”

Đài Lộ nghe vậy mà lòng mừng rỡ: “Nếu chị dâu đã ngủ rồi, thì em có thể ở bên anh lâu hơn một chút.”

“Không vấn đề gì.” Giải Khai vẫy tay: “Ông chủ, mang đến 10 chai bia nhé!”

“Hôm nay em không muốn uống bia đâu.” Đài Lộ lấy ra một chai rượu trắng từ dưới bàn: “Uống thứ này đi, rượu Thập Niên Khoác Tử Giao.”

“Trời ạ, chai này giá hàng trăm đồng chứ.” Giải Khai cũng không keo kiệt, lấy ra hai chiếc cốc nhựa và đặt trước mặt Đài Lộ.

Đài Lộ mở nắp chai, rượu từ từ chảy ra trong cốc: “Rượu mà khách đã mở ra rồi, để không uống thì phí lắm.”

**Ba mươi**

Rượu Thập Niên Khoác Tử Giao được niêm phong bằng đất sét; để mở nó, cần phải dùng loại tuýp kim loại đặc biệt. Nhưng Đài Lộ lại chỉ cần dùng tay là đã mở được nắp chai, điều này khiến Giải Khai cảm thấy ngạc nhiên. Tuy nhiên, sau khi nghe lời giải thích của Đài Lộ, mọi nghi ngờ của anh ta lập tức tan biến. Trong các nhà hàng, thường xuyên có tình huống khách hàng mở rượu ra nhưng không uống hết và cũng không mang đi; lúc đó, nhân viên sẽ thu lại những chai rượu đã được mở ra và dùng chúng sau khi nhà hàng đóng cửa. Đừng nghĩ rằng việc uống những chai rượu này là điều gì đó xấu xa; có câu ngạn ngữ nói rằng “Càng uống rượu trong cốc, bạn càng cảm thấy thoải mái”. Nhiều ông chủ nhà hàng rất yêu thích loại rượu này, bởi vì họ tin rằng “rượu thừa” có thể mang lại may mắn cho họ.

Giải Khai ngây thơ tin lời giải thích của Đài Lộ, nhưng anh ta không hề biết rằng chai rượu này ẩn chứa những bí mật kỳ lạ.

“Nào, cùng nhau uống một ly đi.” Đài Lộ nâng cốc lên và chạm cốc với Giải Khai.

“Vậy thì em xin khai tiệc trước nhé.” Rượu miễn phí mà, uống không hề tiếc gì cả; Giải Khai liền uống hết cả ly rượu.

“Thật là có hứng uống! Uống thêm một ly nữa đi.”

“À, ông Đài ơi, hôm nay rượu này có vẻ gì đó kỳ lạ quá…” Sau khi uống một ly, lưỡi Giải Khai bắt đầu cảm thấy nặng trĩu.

“Chắc là em quá mệt mỏi thôi; uống rượu sẽ giúp giải tỏa mệt mỏi đấy. Nào, uống thêm một ly nữa là ổn thôi.”

“Có lẽ vậy...” Mặt Giải Khai đỏ bừng, người cũng bắt đầu rung lắc: “Ông… Đài… ơi… em… em…”

“Em uống quá nhiều rồi, để anh dìu em về nhà nhé.”

Giải Khải lẩm bẩm không rõ ý nghĩa gì; mọi thứ xung quanh dường như đều được ghép lại từ những khối hình vuông nhỏ. Nhìn ánh mắt mơ hồ của Giải Khải, Đài Lộ biết rằng loại thuốc kích dục này đã phát huy tác dụng. Theo hướng dẫn sử dụng, khi thuốc mới vào cơ thể, người ta sẽ cảm thấy chóng mặt trong một thời gian ngắn; sau khi thuốc thấm vào máu, tác dụng kích dục sẽ đạt đến đỉnh cao.

Khi thấy thời điểm đã đến, Đài Lộ đứng dậy và dìu Giải Khải vào một khách sạn gần đó. Sau khi vào phòng, Đài Lộ còn thay một bộ đồ lót gợi cảm. Nghe tiếng thở hổn hển của Giải Khải, Đài Lộ áp mặt mình vào ngực anh ta và khéo léo cởi bỏ những chiếc quần áo mỏng manh đó. Sự ma sát giữa hai cơ thể khiến Giải Khải nhanh chóng phản ứng. Vì vợ anh là Bùi Xuân Nãn luôn phải uống thuốc, nên Giải Khải và cô ấy đã lâu không quan hệ tình dục với nhau. Trước sự cám dỗ này, cùng với tác động của thuốc kích dục, Giải Khải không thể kiểm soát được ham muốn của mình nữa. Anh ta như một con thú dữ, đè Đài Lộ xuống dưới thân mình; những cú va chạm mạnh mẽ khiến chiếc giường trong khách sạn liên tục phát ra tiếng “kêu răng rắc”.

Chẳng mấy chốc, do kiệt sức, Giải Khải nằm trên giường và ngủ thiếp đi. Còn Đài Lộ thì nằm trong vòng tay anh ta, đôi mắt long lanh. Thông thường, việc đàn ông cho phụ nữ uống thuốc kích dục là chuyện thường gặp, nhưng ngược lại thì lại hiếm khi xảy ra. Là người chủ mưu toàn bộ chuyện này, Đài Lộ cũng chỉ làm như vậy lần đầu tiên. Điều làm cô ấy vui mừng là sức mạnh của Giải Khải đã mang lại cho cô những khoái cảm chưa từng có; cảm giác thoải mái như đang bay lượn trên mây khiến Đài Lộ say mê.

Ánh nắng mặt trời chiếu vào phòng và di chuyển từ từ trên chiếc giường. Ánh sáng đó khiến Giải Khải bất ngờ tỉnh dậy. Khi nhìn thấy người bên cạnh mình – Đài Lộ – hoàn toàn trần truồng, anh ta cảm thấy hoảng sợ đến mức chưa từng có.

“Anh đã tỉnh rồi à?” Đài Lộ nhìn anh ta một cách đầy tình cảm.

“Chúng ta… sao lại như vậy…”

“Anh không nhớ gì cả sao?” Đài Lộ e thẹn như một cô gái 18 tuổi.

“Nhớ cái gì?”

“Đồ vô lòng!” Đài Lộ kéo tấm chăn ra, để lộ bộ ngực trắng nõn của mình, “Hôm qua anh say rượu, cưỡng bức kéo em vào khách sạn… Sao vậy, vừa tỉnh dậy đã không muốn nhận thức nữa à?”

Giải Khải vội vàng dùng tay che đi phần cơ thể đó: “Em mau mặc quần áo đi.”

Đài Lộ kéo tay anh ta ra: “Chúng ta đều là người lớn rồi, đ

Nghe Đài Lộ nói như vậy, Giải Khải thở phào nhẹ nhõm: “Cảm ơn em gái, cảm ơn em gái.”

Đài Lộ đã trải qua rất nhiều người đàn ông; một người mới chơi như Giải Khải, làm sao có thể sánh kịp cô ấy? Thấy anh ta đã hoàn toàn thư giãn, Đài Lộ liền tiếp tục quấn lấy anh ta.

“Em gái, em đang làm gì vậy?”

“Anh trai, tối hôm qua anh thật tuyệt vời… Trước khi chia tay, chúng ta hãy lại một lần nữa đi.”

Đối với đàn ông, không có gì quan trọng hơn việc được người phụ nữ khen ngợi về khả năng “trên giường”. Dù vậy, nhiều người đàn ông tốt vẫn đi mua dâm; miễn là họ không vi phạm lý tưởng đạo đức, Giải Khải cũng không cảm thấy quá tội lỗi. Cơ thể quyến rũ của Đài Lộ liên tục kích thích anh ta; trước khi rời khỏi phòng, hai người lại tiếp tục “giao hò”.

Việc Đài Lộ kiên quyết muốn có thêm một lần nữa có ý nghĩa sâu sắc. Bởi vì cô ấy biết rằng tất cả những gì xảy ra tối hôm qua đều diễn ra trong tình trạng Giải Khải không hề hay biết gì. Cô ăn năn rằng nếu anh ta sau này dùng cớ “uống quá nhiều rượu” để tránh nói về chuyện này, thì tất cả những nỗ lực của cô ấy sẽ trở nên vô ích. Tất cả những gì cô ấy đã làm trước đó chỉ nhằm mục đích khiến Giải Khải tự nguyện quan hệ với mình; chỉ như vậy, họ mới có thể tiếp tục “lần đầu e ngại, lần thứ hai quen thuộc, lần thứ ba…”.

Mọi thứ đều diễn ra theo kế hoạch của Đài Lộ. Sau khi rời khách sạn, cô ấy tạo ra rất nhiều cơ hội cho hai người gặp gỡ nhau; từ phòng ngủ, phòng tắm đến các góc khuất trong căn hộ Xianhuaiju, đều có dấu vết của những lần “giao hò” của họ.

Giải Khải lại tiếp tục sa vào lỗi lầm cũng bởi vì lời hứa của Đài Lộ rằng “sẽ không làm ảnh hưởng đến gia đình hai bên”. Anh ta tự an ủi bản thân rằng: “Cứ coi như mình đang đi mua dâm thôi.”

Nhưng “luôn đi bên bờ sông, làm sao không bị ướt chân”? Không có bức tường nào là kín đáo hoàn toàn. Một lần, khi Đài Lộ và Giải Khải đang âu yếm trong phòng tắm, họ bị Guo Xiaofei bất ngờ bắt gặp. May mắn thay, Đài Lộ nhanh trí khóa cửa lại, và Giải Khải đã lợi dụng lúc hỗn loạn để trốn thoát qua cửa sổ.

Trang 31

Trên đường trở về, Giải Khải cảm thấy vô cùng lo lắng. Anh sợ rằng mọi chuyện sẽ bị phát hiện và không thể kết thúc một cách êm đẹp được. Sau một đêm sốt ruột chờ đợi, cuối cùng Đài Lộ đã gọi điện cho anh với giọng nói thoải mái: “Đừng lo nữa, tôi đã giải quyết xong mọi chuyện rồi.”

“Gì cơ? Đã giải quyết xong à? Thật sự không có vấn đề gì nữa sao?”

“Người đó của nhà tôi… Ý tôi là người đó sẽ không nói ra đâu, yên tâm đi.”

“Thế thì tốt quá.” Trái tim đang treo lơ lửng của Giải Khải cuối cùng cũng được yên bình lại.

“Tại sao lại nói ‘thế thì tốt quá’ vậy?” Bèi Xuân Nam tiến lại gần hỏi.

“Không… không có gì cả…” Giải Khải vội vàng cất điện thoại vào lòng, “À, tôi đi giao hàng thôi, đúng rồi, đi giao hàng.”

Mặc dù Bèi Xuân Nam không nói gì, nhưng cô đã bắt đầu nghi ngờ từ lâu rồi. Là người sống chung với Giải Khải, cô hiểu rõ nhất về thói quen sinh hoạt của chồng mình. Những tháng gần đây, Giải Khải luôn tìm đủ lý do để ra ngoài và không trở về nhà; mỗi khi trở về, trên người anh luôn mang theo mùi nước hoa nhẹ nhàng. Một lần, Bèi Xuân Nam đã hỏi chồng mình, và anh ta giải thích rằng mùi đó là do đi gặp gỡ khách hàng mà bị lây vào. Dù Bèi Xuân Nam ít khi ra ngoài, nhưng cô vẫn có thể phân biệt được nhiều loại nước hoa khác nhau; mùi nước hoa trên người Giải Khải chính là loại “Caslanna” phiên bản nhẹ, và cửa hàng chuyên bán loại này còn nằm ngay trong thị trấn nữa; cô thậm chí còn đã đến đó để kiểm tra. Loại nước hoa này có giá khá đắt, một chai có thể lên đến vài trăm nhân dân tệ; gia đình bình thường chắc chắn không thể mua nổi. Hơn nữa, loại nước hoa này cần được thoa bằng cách “chấm nhẹ”, chỉ cần phun một lượng nhỏ lên sau tai, cổ tay và đầu gối; trừ khi hai người có sự tiếp xúc thân mật, nếu không thì mùi nước hoa rất khó có thể lây sang người kia. Ngoài ra, còn có một điều khác không thể giải thích được: mỗi khi trở về nhà, Giải Khải luôn mang theo cùng một mùi nước hoa; nếu như anh ta thực sự đi gặp gỡ khách hàng, làm sao mỗi lần đều có cùng một người phụ nữ tham gia? Chẳng lẽ đó chỉ là sự trùng hợp? Rõ ràng là không phải vậy.

Trước cửa hàng bán đồ khô có một quầy bán trái cây; chủ quầy là một người phụ nữ khoảng 40 tuổi, và vào những lúc rảnh rỗi, bà ấy thích nhất là trò chuyện về chuyện này chuyện kia của các gia đình xung quanh. Bèi Xuân Nam là một người phụ nữ kín đáo; cô ghét việc người khác nói lung tung, vì vậy suốt thời gian qua, cô chưa bao giờ có bất kỳ sự liên lạc nào với người

Theo tâm lý học, con người cần giao tiếp với thế giới bên ngoài để giải tỏa những suy nghĩ trong lòng. Nếu thiếu đi sự giao tiếp, điều này sẽ dẫn đến những khiếm khuyết về tính cách, và những người có tính cách hướng nội thường dễ mắc phải các bệnh tâm thần hơn so với những người hướng ngoại.

Pei Chūnnán suốt nhiều năm không bao giờ ra khỏi nhà; người duy nhất có thể trò chuyện với cô là những khách hàng ghé thăm. Tuy nhiên, khi mức sống của mọi người được cải thiện, nguyên liệu tươi mới đã trở thành lựa chọn hàng đầu cho bữa ăn hàng ngày. Cửa hàng bán đồ khô từ lúc đông đúc người qua kẻ lại đã trở nên vắng vẻ chỉ trong vòng một năm. Mỗi ngày, vào khoảng 8 giờ sáng và tối, Pei Chūnnán đều dành phần lớn thời gian để mơ màng một mình. Cô liên tục tự hỏi rằng nếu Giải Khải thực sự rời bỏ mình, cô sẽ phải làm thế nào? Bà ngoại đã qua đời, công việc cũng được giao cho em trai, vì vậy Giải Khải chính là niềm hy vọng duy nhất của Pei Chūnnán. Nỗi sợ hãi trong lòng cô ngày càng gia tăng, nhưng cô không dám nói ra; cô lo rằng nếu “vỡ vụn” những ảo tưởng đó, mọi thứ sẽ trở nên không thể kiểm soát được. Hiện tại, cô chỉ có thể tự lừa dối mình, tin rằng mối quan hệ giữa người phụ nữ kia và chồng mình chỉ đơn thuần là bạn bè.

Nhưng Pei Chūnnán không hề biết rằng mình đang từng bước bước vào cái bẫy do Đài Lộ dựng lên. Đài Lộ đã từng quan hệ với rất nhiều người đàn ông; cô hiểu rõ rằng miễn là tình cảm giữa hai người vẫn còn đó, những sự xâm nhập của người thứ ba chỉ mang lại những tổn thương tạm thời mà thôi. Có câu ngạn ngữ rằng “Nóng vội thì không thể ăn được đậu phụ nóng”, và vì thường xuyên tham gia các buổi tiệc, cô đã nghe quá nhiều cách để phá hoại hạnh phúc gia đình người khác. Việc “bị Guō Xiǎofēi phát hiện khi ngoại tình” sẽ khiến Giải Khải lo lắng; những lời ám chỉ từ người phụ nữ bán trái cây sẽ khiến Pei Chūnnán nghi ngờ. Như vậy, tình cảm giữa hai vợ chồng sẽ dần dần bị hủy hoại bởi những nghi ngờ không ngừng. Khi tình cảm đã cạn kiệt, Đài Lộ sẽ thu lợi từ tình huống đó.

Một tháng sau, Đài Lộ mời Giải Khải đến khách sạn dưới danh nghĩa là đưa hàng. Khi hai người đang tận hưởng khoảnh khắc riêng tư, Pei Chūnnán bất ngờ bước vào phòng. Lúc đó, Giải Khải đang say sưa trong tình yêu với Đài Lộ; Pei Chūnnán bình tĩnh bước đến bên giường và lặng lẽ nhìn hai người đang trần truồng.

Tiếng động của chiếc giường đột nhiên im bặt; Giải Khải hoảng sợ nhìn chằm ch

So với cô ấy, Đài Lộ lại tỏ ra vô cùng bình tĩnh. Cô ấy từ từ đứng dậy và nhìn chằm chằm vào Pei Chunnan – người vẫn đang mặc tạp dề – với ánh mắt khinh thường đến mức gần như muốn xé nát Pei Chunnan.

Những lời đồn đại đã trở thành sự thật; Pei Chunnan không hề la hét như một kẻ điên cuồng, bởi cô ấy muốn giữ lại danh dự cho chồng mình.

**Ba mươi hai…**

Việc Pei Chunnan có thể tìm được khách sạn và biết rõ số phòng cụ thể, rõ ràng là do ai đó cố tình muốn khiến Giải Khai cảm thấy xấu hổ. Chỉ có Guo Xiaofei mới biết chuyện Giải Khai và Đài Lộ lén lút quan hệ với nhau; ngoài anh ta ra, Giải Khai không thể nghĩ đến người thứ hai. Trước đây, Đài Lộ từng có rất nhiều người đàn ông, nhưng Guo Xiaofei chưa bao giờ để cô ấy làm gì được mình… Nhưng lần này, Guo Xiaofei đã phản bội anh ta, và điều đó khiến Giải Khai không thể nào chịu đựng nổi. Khi không tìm thấy Pei Chunnan, Giải Khai đã trút hết sự oán giận của mình lên Guo Xiaofei.

Đêm hôm đó, Giải Khai mang theo một con dao rọc và kéo Guo Xiaofei – người đang bận rộn với công việc – vào hẻm sau nhà hàng.

“Kẻ đàn ông hèn nhát như ngươi, không thể kiểm soát được phụ nữ của mình, lại dùng những thủ đoạn bẩn thỉu như thế này để trả thù ta!”

Khi Giải Khai vung dao lên, Guo Xiaofei đã nhanh chóng siết chặt cổ tay anh ta và giành lấy con dao đó.

“Ngươi…” Giải Khai vô cùng ngạc nhiên; anh ta chưa bao giờ nghĩ rằng Guo Xiaofei yếu đuối như vậy lại có sức mạnh lớn đến thế.

“Nói thật lòng, ngươi không phải đối thủ của ta. Đài Lộ – kẻ đàn bà đáng ghét đó… Ai làm gì với cô ấy cũng được; ngươi nghĩ rằng ta sẽ vì cô ấy mà trả thù ngươi sao?” Guo Xiaofei cười lạnh, “Đài Lộ không chỉ hèn mọn mà còn độc ác đến cực điểm. Suốt những năm qua, tôi đã thấy cô ấy quan hệ với vô số người đàn ông… Từ khi cô ấy lần đầu tiên dụ dỗ ngươi, tôi đã đoán trước được kết cục này.”

Nghe Guo Xiaofei nói, Giải Khai dần bình tĩnh lại và hỏi: “Tại sao ngươi lại đoán trước được kết cục này?”

“Bởi vì những chuyện tương tự đã xảy ra không ít lần. Suốt những năm qua, cô ấy luôn tìm kiếm một người đàn ông phù hợp để thay thế vị trí của tôi… Nói cách khác, tất cả những chuyện này đều là âm mưu của Đài Lộ.”

“Tại sao ta phải tin lời ngươi?”

Guo Xiaofei cười nhẹ: “Ngươi cũng là một người trưởng thành rồi… Hãy suy nghĩ kỹ lại toàn bộ quá trình ngươi bị bắt gặp trong tình trạng đó, và ngươi sẽ hiểu rằng chuyện này không liên qu

Guo Xiaofei bước ra khỏi con hẻm và ngay lập tức trở lại với vẻ ngoài của một người phục vụ luôn cúi đầu, khuất phục. Giải Khai đứng nguyên tại chỗ, suy ngẫm kỹ lưỡng những gì Guo Xiaofei vừa nói, và sau khi bình tĩnh lại, anh nhận ra rằng thực sự có vài điểm đáng nghi ngờ mà không thể giải thích được. Đầu tiên, mỗi lần hẹn hò, đều là Đài Lộ đặt phòng; làm sao người khác có thể biết được số phòng? Thứ hai, khi bị bắt quả tang, Bạch Xuân Nam đã dễ dàng mở cửa phòng, điều này cũng không hợp lý chút nào. Cuối cùng, sau khi bị bắt gặp trong tình trạng đang “lén lút”, Đài Lộ lại tỏ ra rất bình tĩnh, như thể mọi chuyện đều nằm trong dự đoán của cô ấy.

Nhớ lại tất cả những gì đã xảy ra hôm nay, Giải Khai cuối cùng tin rằng tất cả đều do Đài Lộ một mình gây ra. Nếu là người khác, có lẽ kế hoạch của Đài Lộ sẽ thành công, nhưng cô ấy đã bỏ qua một điều quan trọng, đó là tình cảm mà Giải Khai dành cho Bạch Xuân Nam.

Dù đã sai lầm, nhưng Giải Khai thực sự yêu Bạch Xuân Nam sâu đậm. Lúc này, anh chỉ muốn tìm gặp cô ấy để xin lỗi. Tuy nhiên, đáng tiếc thay, Bạch Xuân Nam, sau khi bị áp bức quá lâu, đã không còn mong muốn gì nữa với thế giới này. Sau khi rời khỏi khách sạn, cô đã chọn kết thúc cuộc đời mình tại ngôi đền Tiên Hoài – nơi đã mang lại cho cô rất nhiều kỷ niệm đẹp.

Khi thi thể của cô được phát hiện, đã là vào sáng hôm sau. Trước linh đường, Giải Khai quỳ gối xuống đất, với khuôn mặt cứng đờ, anh cúi đầu chào từng người đến viếng. Lúc đó, ai cũng không ngờ rằng, dưới vẻ mặt bình tĩnh của anh, đã ẩn chứa một ý định điên rồ: “trả thù bằng mạng sống”.

Ngay sau khi Bạch Xuân Nam được an táng, Giải Khai liền đến nơi ở của Đài Lộ. Khi Đài Lộ nhận ra có điều gì đó không ổn, thanh kiếm của Giải Khai đã đâm vào người cô vài nhát. Do mất máu quá nhiều, Đài Lộ nhanh chóng ngã gục không biết tỉnh táo. Chỉ khi chắc chắn rằng Đài Lộ đã “chết hẳn”, Giải Khai mới thu lại thanh kiếm và vội vàng bỏ chạy. Đối với Giải Khai, việc giết chết Đài Lộ chỉ là cách để trả lời cho Bạch Xuân Nam mà thôi; điều anh còn muốn làm tiếp theo, đó là đào lên thi thể của Bạch Xuân Nam và đuổi kịp bước chân của vợ mình trước cây cầu Hào Nại.

Tuy nhiên, Giải Khai không ngờ rằng cảnh sát sẽ can thiệp vào vụ án này nhanh đến thế. Để tránh bị bắt, anh chỉ có thể trốn vào một cái hang trong rừng, nơi mà chỉ mình anh biết thông tin. Cái hang ấy đã tr

Giải Khải hoạt động về đêm và ẩn náu vào ban ngày; anh đã sống sót được ba ngày nhờ vào những lễ vật dâng cúng tại ngôi mộ. Khi chắc chắn rằng không còn cảnh sát truy đuổi nữa, anh đến bên mộ vợ mình. Lúc chôn cất, anh đã hối lộ người canh giữ ngôi mộ để giữ lại thi thể của vợ. Bây giờ, điều anh cần làm là mang vợ mình đi.

“Xiao Nãn Hoàng, em thực sự xin lỗi anh… Anh còn quá nhiều điều chưa kịp giải thích cho em mà em đã ra đi. Hôm nay là ngày thứ bảy sau khi em qua đời; em phải đợi anh ở nơi linh hồn em trở về nhé. Anh sẽ đưa em đến một nơi… Từ nay về sau, dù sinh tử hay kiếp sau, anh sẽ luôn ở bên em… Chúng ta sẽ không bao giờ tách rời nhau nữa.”

Trong nỗi đau khổ tột độ, Giải Khải không ngờ rằng hành động của mình sẽ thu hút sự chú ý từ xung quanh. Khi anh chuẩn bị đào đất để lấy thi thể vợ, một người cầm đèn pin đang tiến về phía anh. Dưới ánh sáng đó, Giải Khải nhận ra đó chính là Gao Minh – người canh giữ ngôi mộ của Xian Huai Linh. Gao Minh là người hiệp nghĩa; Giải Khải có ấn tượng tốt về anh ta. Nếu không phải vì mình đã phạm tội, anh chắc chắn sẽ không làm phiền Gao Minh. Nhưng trong tình huống này, Gao Minh đã gặp phải rủi ro lớn… Giải Khải trốn vào bóng tối; khi xuất hiện trở lại, con dao của anh đã đặt trên cổ Gao Minh.

May mắn thay, Gao Minh tuân theo mọi lệnh của Giải Khải. Với tâm thế muốn tha thứ cho người khác, Giải Khải đã buông tha Gao Minh. Sau khi mọi chuyện yên ổn, anh dùng một sợi dây da để đeo xác của Bèi Xuân Nam vào lưng và đưa nó vào một cái hang trong rừng. Để ngăn người khác xâm nhập, anh dùng dao chặt hết các loại dây leo xung quanh lối vào hang. Sau khi hoàn thành mọi việc, anh ôm lấy xác vợ mình vào lòng… Nỗi đau uất ức suốt nhiều ngày cuối cùng cũng bùng nổ… Anh hôn lên khuôn mặt đã bị thối rữa của vợ mình… Trong nỗi buồn sâu thẳm, anh dường như nhìn thấy một bóng ma ảo ảnh trong hang… Bóng ma đó liên tục lặp đi lặp lại một câu: “Em phải đi rồi… Em phải đi rồi…”

Theo bản năng, Giải Khải vươn tay về phía bóng ma đó, la hét: “Đừng đi… Đừng rời xa anh!”

Những sợi dây leo dùng để trở về đã bị chặt hết; lần này, Giải Khải quyết tâm sẽ hy sinh mạng sống của mình… Để có thể theo kịp vợ mình trên con đường âm phủ, anh dùng hết sức mạnh đâm con dao vào trái tim mình… Trong khoảnh khắc cuối cùng của cuộc đời, anh run rẩy và nói ra ba từ: “Hãy… đợi… anh…”

Sau vụ án, Đài Lộ đã hôn mê suốt gần một tháng tại phòng chăm sóc đặc biệt. Chồng cô, Guo Xiaofei, đã bán hết tài sản gia

Vụ án “gây thương tích Đài Lộ” đã được đội điều tra hình sự của khu vực xếp vào loại vụ án nghiêm trọng. Trong những năm qua, các hoạt động truy bắt Kỳ Khải chưa bao giờ dừng lại. Mỗi khi đến dịp lễ tết, nhiều nghi phạm đang lẩn trốn thường tìm mọi cách để liên lạc với gia đình; vì vậy, mỗi dịp lễ, sĩ quan điều tra Đường Húc luôn tiến hành kiểm tra lại mạng lưới quan hệ của Kỳ Khải một lần nữa.

Tuy nhiên, đáng tiếc là sau 7 năm điều tra, Đường Húc vẫn không tìm ra bất kỳ manh mối nào. Anh cho rằng có hai khả năng: hoặc là Kỳ Khải đã đổi danh tính, hoặc là vẫn còn những người trong mạng lưới quan hệ của anh ta chưa được kiểm tra kỹ lưỡng. Là một điều tra viên xuất sắc, Đường Húc tự nhiên không coi khả năng đầu tiên là có thể xảy ra; vấn đề thực sự khiến anh quan tâm là làm thế nào để mở rộng phạm vi điều tra.

Vì không thể tìm ra câu trả lời từ Kỳ Khải, Đường Húc quyết định thử tìm hiểu thông tin về Bùi Xuân Nam. Qua điều tra, anh phát hiện ra rằng mạng lưới gia đình của Bùi Xuân Nam cực kỳ đơn giản; ngoài bà ngoại đã qua đời, cô ấy suốt nhiều năm không hề có bất kỳ liên lạc nào với bạn bè hay người thân.

Khi tìm ra địa điểm làm việc của Pei Chunnan, một người đàn ông tên Đậu Triết đã thu hút sự chú ý của Tang Hứa.

Pei Chunnan từng làm việc tại nhà máy sản xuất giấy trên phố Lão Sơn. Nhà máy này đã ngừng hoạt động cách đây 5 năm do các chính sách quốc gia, và hồ sơ của các nhân viên đều được lưu trữ tại trung tâm hồ sơ của cơ quan nhân sự xã hội. Tang Hứa đã tỉ mỉ xem xét tất cả các tài liệu liên quan đến Pei Chunnan, và theo ký ức của trưởng bộ phận nhân sự vào thời điểm đó, Pei Chunnan đã tự nguyện nhường vị trí công việc của mình cho Đậu Triết.

Cần biết rằng vào thời điểm đó, mức lương của công nhân nhà máy giấy cao hơn cả mức lương của các công chức nhà nước. Nếu không phải vì có mối quan hệ thân thiết, làm sao Pei Chunnan lại sẵn lòng từ bỏ “chén cơm chắc chắn” của mình?

Để làm rõ nguyên nhân, Tang Hứa đã đến địa chỉ nhà của Đậu Triết. Người tiếp đón họ là chủ nhà, Đậu Quang Thành.

“Đậu Triết là người thân của anh ta à?” Sau khi giới thiệu danh tính, Tang Hứa đặt câu hỏi đầu tiên.

Đậu Quang Thành là một người nông dân chất phác. Khi biết hai người đến đó là cảnh sát, ông ta run rẩy: “Thưa cảnh sát, có phải con trai tôi đã làm gì sai không ạ?”

Tang Hứa mỉm cười và nói: “Không, chúng tôi đến đây chỉ để hỏi ông ấy một số thông tin thôi, không có gì khác.”

Đậu Quang Thành đáp: “À, Đậu Triết là con trai tôi. Hiện tại, cậu ấy đang đi lái xe ở nơi khác.”

Tang Hứa gật đầu và hỏi tiếp: “Anh Đậu, tôi muốn hỏi thêm một điều nữa: trong gia đình các anh có người thân tên Pei Chunnan không?”

“Pei Chunnan ư?”

“Đúng vậy, khoảng 30 tuổi, cao khoảng 1 mét 65, tóc dài.”

“Chunnan có chuyện gì à?” Đậu Quang Thành bỗng hoảng loạn.

“Chunnan ư? Vậy là anh biết Pei Chunnan?”

“Thưa cảnh sát, thành thật mà nói, tôi chính là cha ruột của cô ấy.”

“Vậy thì Đậu Triết…”

“Đậu Triết là em trai ruột của cô ấy.”

“Vậy họ của các anh là gì?”

“Gia đình chúng tôi rất nghèo. Khi Chunnan sinh ra, mẹ cô ấy bị bệnh nặng, chúng tôi thực sự không đủ khả năng nuôi dưỡng cô ấy, nên đã gửi cô ấy cho người khác. Sau đó, khi sức khỏe của mẹ cô ấy tốt hơn một chút, chúng tôi mới nhận lại Đậu Triết.”

“Hóa ra là như vậy…” Tang Hứa suy nghĩ một lúc, rồi hỏi: “Gia đình các anh có biết chuyện Pei Chunnan nhường vị trí công việc cho Đậu Triết không?”

“Chúng tôi biết một chút thôi. Về chi tiết đầy đủ, các anh nên hỏi Đậu Triết.”

“Được, xin hãy cho tôi biết thông tin liên lạc của anh ấy, chúng tôi còn một số việc cần hỏi ông ấy.”

Ba mươi ba

Đối với chị gá

Vào những năm đó, khi còn làm việc trong đội vận chuyển của nhà máy giấy, thầy của Đậu Triết là Sơn Biao đã từng hỏi anh ta làm thế nào mà anh ta có thể vào được làm việc tại nhà máy giấy trên phố Lão Sơn. Lúc đó, Đậu Triết vừa mới rời khỏi vùng núi, là một người hiền lành và chân thật; anh ta chỉ đơn giản là điều chỉnh một chút lý do mình kể ra, nói rằng một người họ hàng xa đã nghỉ việc và mời anh ta đến làm việc thay. Nghe Đậu Triết nói vậy, Sơn Biao lập tức hiểu ra sự thật, ông ấy nói: “Người họ hàng xa của bạn đó không hề xa cả; nhà máy giấy trên phố Lão Sơn của chúng ta được coi là một trong những đơn vị hàng đầu ở tỉnh Toàn Văn Nam. Họ đã để lại cho bạn một công việc ổn định – làm sao có thể gọi đó là mối quan hệ họ hàng xa được?”

Lúc đầu, Đậu Triết không hiểu lời nói của Sơn Biao, nhưng sau này, khi anh ta nhận được mức lương 6000 nhân dân tệ mỗi tháng, anh mới nhận ra rằng chị gái mình là Bùi Xuân Nham không chỉ đưa cho anh một công việc, mà còn là cơ hội để sống một cuộc sống đàng hoàng.

Khi lớn lên, Đậu Triết đã nghĩ đến việc trả ơn chị gái mình. Sau nhiều lần tìm kiếm, anh cuối cùng cũng tìm thấy chị ở một cửa hàng bán đồ khô nhỏ trong thị trấn. Khi Đậu Triết gặp chị, cô ấy đang tính tiền cho khách hàng, mặc chiếc tạp dề vải hoa. So với lần đầu hai người gặp nhau một năm trước, Bùi Xuân Nham trông già đi rất nhiều; nếu không nhớ rõ khuôn mặt chị, Đậu Triết chắc chắn sẽ không tin nổi rằng người phụ nữ đó chính là chị gái mình.

Đậu Triết mang theo 20.000 nhân dân tệ – số tiền anh đã tiết kiệm được bằng công sức lao động – và muốn dùng nó để trả ơn chị gái mình. Nhưng khi nhìn thấy cảnh tượng trước mắt, anh mới nhận ra rằng lòng biết ơn này không thể đo lường bằng tiền bạc. Hôm đó, anh đứng ở cửa hàng rất lâu; anh cảm nhận thấy chị gái mình đã nhiều lần nhìn về phía mình, nhưng đáng tiếc là cô ấy không nhận ra anh, mà cứ như thể không thấy gì xảy ra vậy. Đậu Triết tôn trọng quyết định của chị gái mình, nên anh chỉ nhìn thêm một lát rồi quay đi.

Sau vài năm làm việc tại nhà máy giấy trên phố Lão Sơn, do những yếu tố chính sách, nhà máy buộc phải đóng cửa và các công nhân đều phải tự tìm cách sinh sống. May mắn thay, công việc trong đội vận chuyển thuộc loại công việc đòi hỏi kỹ năng, vì vậy dù đi đâu, miễn là có khả năng lái xe, họ vẫn có thể tìm được việc làm.

Nhờ sự giới thiệu của một người quen, Đậu Triết được vào làm việc tại một nhà máy hóa chất ở tỉnh Hồ Nam. Ý định của an

**“Tang Xu đi thẳng vào vấn đề.”**

**“Là chị gái tôi.”**

**“Vậy còn Giải Khai, anh có biết không?”**

**“Ai vậy?”**

**“Giải Khai.”**

**“Tôi chưa bao giờ nghe nói đến người này.”**

**Tang Xu hơi ngạc nhiên:** “Pei Chūnnán và Giải Khai là vợ chồng, anh biết chị gái mình nhưng lại không biết đến Giải Khai sao?”

**“Tôi chỉ gặp chị gái mình vài lần thôi, suốt bao năm qua chúng tôi không hề liên lạc với nhau. Tên của chồng chị gái tôi là gì, tôi thực sự không biết.”**

**Trước câu trả lời của Đậu Triệt, Tang Xu tỏ ra nghi ngờ:** “Tôi hỏi anh, liệu năm xưa chị gái anh, Pei Chūnnán, có từng nhường công việc của mình cho anh không?”

**“Có.”**

**“Nhà máy sản xuất giấy ở phố Lão Sơn là một doanh nghiệp quốc doanh nổi tiếng của thành phố Vân Tịch. Anh nói rằng chỉ gặp Pei Chūnnán vài lần thôi, làm sao cô ấy có thể dễ dàng nhường công việc ổn định đó cho anh được? Điều này thật khó hiểu.”**

**“Tôi cũng không biết, nhưng đó chính là sự thật. Suốt bao năm qua, tôi chỉ gặp chị gái mình ba lần thôi: lần đầu tiên là ở nhà tôi, lần thứ hai là khi cô ấy giúp tôi tìm việc, và lần thứ ba là khi tôi đến tìm cô ấy.”**

**Tang Xu là một điều tra viên giàu kinh nghiệm; ông đã từng đối mặt với rất nhiều nghi phạm xảo quyệt, nhưng nhìn thấy vẻ chân thật của Đậu Triệt, ông cũng không thể hiểu nổi:** “Những gì anh nói đều là sự thật à? Thực sự không có gì giấu giếm sao?”**

**“Không, tôi chỉ biết những điều đó thôi.”**

**Tang Xu nhéo cằm, đi đi lại lại trong phòng thẩm vấn, suy nghĩ mãi sau đó mới nói với Đậu Triệt:** “Được thôi, nếu anh thực sự không biết gì cả, vậy thì tôi cũng không muốn làm phiền anh nữa. Anh có thể về được rồi.”**

**“Thanh tra, có thể cho tôi biết chị gái tôi đã xảy ra chuyện gì không?”**

**“À… này…” Tang Xu cố tình kéo dài giọng nói, “vì anh không hề biết gì cả, nên tôi cũng không tiện nói chi tiết cho anh biết. Mong anh thông cảm.”**

**Nghe vậy, Đậu Triệt gật đầu mạnh mẽ và không tiếp tục hỏi thêm về vấn đề này nữa.”**

**Sau khi kết thúc cuộc thẩm vấn, Tang Xu tiếp tục tiến hành nhiều công tác điều tra khác liên quan đến Đậu Triệt. Kết quả cho thấy Đậu Triệt là một tài xế xe tải; suốt những năm qua, ngoại trừ các dịp lễ Tết, anh gần như dành toàn bộ thời gian trên xe tải, và mối quan hệ xã hội của anh cũng rất đơn giản. Khả năng Giải Khai liên lạc với anh gần như bằng không. Đến đây, tất cả các manh mối đều đã bị kiểm tra hết; nơi mà Giải Khai đã đi đ

Để tìm hiểu rõ nguyên nhân, Đậu Triết với tâm trạng lo lắng đã đến cửa hàng thực phẩm khô của chị gái mình. Điều khiến anh không ngờ là nơi này đã thay đổi hoàn toàn, trở thành một siêu thị đồ ăn vặt.

Đậu Triết bước vào cửa hàng và hỏi: “Xin hỏi chủ cửa hàng có ở đây không ạ?”

Một phụ nữ khoảng 30 tuổi trả lời: “Anh muốn tìm ai vậy?”

“Xin hỏi thêm, trước đây nơi này có phải là một cửa hàng thực phẩm khô không ạ?”

Phụ nữ gật đầu xác nhận.

“Vậy chị có biết vợ chồng chủ cửa hàng đó giờ đã chuyển đi đâu không ạ?”

Nghe câu hỏi này, phụ nữ tỏ ra không hài lòng: “Nếu anh không mua gì thì đừng làm phiền tôi kinh doanh.”

“Chủ cửa hàng ơi, tôi là người thân mà họ đã không gặp từ nhiều năm nay. Tôi đã tìm mãi mới tìm đến đây… Nếu chị biết thông tin, xin hãy cho tôi biết được không ạ?” Đậu Triết nói rồi lấy ra 100 nhân dân tệ và tiếp tục: “Tôi cũng không muốn làm phiền chị đâu; chỉ cần trả tiền thôi mà.”

Phụ nữ lắc đầu: “Tôi không quan tâm đến 100 nhân dân tệ đó đâu. Nếu anh muốn hỏi, hãy đi hỏi người phụ nữ bán trái cây ở cửa hàng đối diện đi; cô ấy sẽ biết rõ hơn tôi đấy.”

Đậu Triết không hiểu mình đã làm gì sai để khiến người phụ nữ này tức giận; thấy vậy, anh đành buồn bã rời khỏi cửa hàng.

Đối diện cửa hàng đồ ăn vặt là một dãy quầy bán trái cây. So với tiếng ồn ào của xe cộ trên đường, tiếng hô bán hàng của người phụ nữ bán trái cây mới thực sự chói tai nhất. Đậu Triết nhìn quanh và thấy chỉ có quầy này do một phụ nữ điều hành; chắc chắn đó chính là người mà anh cần tìm kiếm. Xác định được mục tiêu, Đậu Triết cầm tờ 100 nhân dân tệ tiến lại gần.

Người phụ nữ kia trông lớn tuổi hơn Đậu Triết khá nhiều; anh gọi: “Chị ơi!”

Người phụ nữ quay người lại và nhìn Đậu Triết từ đầu đến chân: “Anh gọi tôi à?”

Đậu Triết gật đầu rồi đưa tiền cho cô ấy: “Có việc muốn hỏi chị một chút, có thể đi nói riêng được không ạ?”

Người phụ nữ vuốt ve tờ tiền trong tay để đảm bảo đó là tiền thật, sau đó cô ta hỏi một cách cẩn thận: “Trước hết, anh muốn hỏi điều gì vậy?”

Đậu Triết chỉ về phía sau và hỏi: “Trước đây nơi đây có phải là một cửa hàng thực phẩm khô không ạ?”

“Đúng vậy!”

“Chủ cửa hàng là một cặp vợ chồng, một người tên Bùi Xuân Nam, một người tên Giải Khai phải không ạ?”

“Đúng vậy.”

Đậu Triết vỗ đùi và nói: “Đúng rồi! Họ nợ tôi tiền, tôi đã tìm kiếm mãi mới tìm thấy nơi này… Nhưng bây giờ cửa hàng đã chuyển đi, họ cũng không còn ở đâ

Dou Zhe không có thời gian để nghe những lời nói vô nghĩa của người phụ nữ kia, anh trực tiếp hỏi vào điểm chính: “Chị gái, chị nói xem gia đình Giải Khai đã gặp chuyện gì, nguyên nhân và diễn biến ra sao, chị có biết không?”

Người phụ nữ vỗ ngực nói: “Những chuyện khác tôi không dám chắc, nhưng nguyên nhân của sự việc này thì tôi biết rất rõ.”

Dou Zhe lại lấy ra một tờ tiền: “Tôi sẽ thêm 100 đồng nữa cho chị, hãy kể chi tiết cho tôi nghe.”

Người phụ nữ nhận lấy tiền, mỉm cười vui vẻ và vuốt ve tờ tiền trong tay: “Một hai câu thì không thể giải thích rõ được. Buổi trưa không có khách, lại đúng lúc đến giờ ăn cơm, sao chúng ta không cùng nhau đi quán ăn nhỏ bên kia và vừa ăn vừa nói chuyện nhỉ?”

Trong lòng Dou Zhe chỉ biết cười amarg, không lạ gì khi người ta nói rằng những người làm ăn luôn giỏi tính toán. Họ nhận được 200 đồng tiền, lại còn được ăn uống miễn phí nữa. Nhưng nhìn thấy vẻ kiên định của người phụ nữ kia, Dou Zhe đành đồng ý: “Được thôi, theo ý chị gái đi.”

Người phụ nữ vào quán và gọi một căn phòng riêng. Khi năm món ăn và hai chai bia được mang lên bàn, cô ấy bắt đầu kể từ “bố mẹ Giải Khai mở cửa hàng ở thị trấn” cho đến “Đài Lộ bị đâm”. Trong suốt câu chuyện, cô ấy cũng thêm thắt nhiều chi tiết không có thật.

Có câu nói: “Khi tường đổ, mọi người đều đẩy.” Người như Đài Lộ – kẻ phá hoại gia đình người khác – dù xuất hiện trong câu chuyện nào, cũng luôn là nhân vật phản diện. Gần người xấu thì cũng trở thành xấu theo; tương tự, Giải Khai – người có quan hệ với Đài Lộ – chắc chắn cũng không phải là người tốt. Người phụ nữ cầm trong tay 200 đồng tiền của Dou Zhe, vừa ăn uống miễn phí do anh ta trả tiền, vừa kể câu chuyện một cách sinh động… Nếu không làm vậy, cô ấy cảm thấy áy náy. Vì vậy, dưới sự “tranh thủ” của cô ấy, toàn bộ sự việc đã được biến thành câu chuyện rằng “Đài Lộ và Giải Khai bị bại lộ mối quan hệ bất chính, buộc vợ chính là Bèi Xuân Nam phải tự tử bằng cách treo cổ; sau đó, hai người tranh giành tài sản không công bằng, Giải Khai trong cơn tức giận đã đâm Đài Lộ và bỏ trốn đến Cao Phi”.

Bữa ăn kéo dài đến hai giờ đồng hồ. Người phụ nữ ăn no nê, trong khi Dou Zhe thì chẳng ăn được một hạt gạo nào.

Sau khi rời thị trấn, Dou Zhe tìm đến mộ của chị gái mình tại Lăng Tiên Hoàng. Anh đã cố gắng nhiều năm như vậy, chỉ mong có thể đoàn tụ cùng gia đình, nhưng không ngờ giờ đây lại phải sống xa cách chị gái mã

“Chị gái tôi bị ép đến chết, kẻ phản bội vẫn thoát tội, còn người phụ nữ kia thì vẫn sống lay lắt… Người tốt đã chết, nhưng kẻ xấu vẫn còn sống!” Kết quả này khiến Dou Zhe không thể chấp nhận được.

Dou Zhe là một tài xế xe tải; do thường xuyên vượt tải, anh ta đã bị cảnh sát giao thông trừ điểm và phạt tiền nhiều lần, vì vậy anh ta không hề có ấn tượng tốt gì về cảnh sát. Dou Zhe cho rằng lý do tại sao họ không thể bắt giữ được Xie Kai trong thời gian dài như vậy, có lẽ là vì Xie Kai đã hối lộ cảnh sát. Cơn giận dữ khiến Dou Zhe mất đi lý trí; một kế hoạch trả thù điên cuồng bắt đầu hình thành trong đầu anh: “Nếu cảnh sát không quan tâm đến những vụ án nhỏ như thế này, vậy thì tôi sẽ dùng tay Xie Kai để giết Đài Lộ cái đĩ kia… Xem các người có can thiệp được không!”

Một khi ý định xấu đã xuất hiện, thì rất khó để loại bỏ nó. Đối với Dou Zhe, kết quả hoàn hảo nhất chính là Đài Lộ và Xie Kai cùng nhau phải chết cùng chị gái anh… Anh thậm chí còn nghĩ đến những hành động cực đoan: “Nếu cảnh sát thực sự bắt được Xie Kai, dù phải đánh đổi mạng sống của mình, tôi cũng sẽ khiến Xie Kai phải xuống địa ngục!”

Khi tâm hồn một người bị lòng thù chiếm đóng, người đó chắc chắn sẽ trở nên điên rồ. Dou Zhe đã dành rất nhiều thời gian để lập kế hoạch cho “vụ án giết người” này; sau nhiều lần kiểm tra thực địa, anh tin rằng mình có thể thực hiện kế hoạch một cách hoàn hảo.

Một tháng sau, thời cơ đã đến. Đêm hôm đó, Dou Zhe giống như một con hổ lao xuống núi, sẵn sàng săn mồi con mồi đầu tiên của mình.

Sau nhiều lần quan sát, Dou Zhe đã nắm rõ rất rõ thói quen sinh hoạt của Đài Lộ. Hầu như mỗi tối, căn nhà của cô ấy đều có những người đàn ông khác nhau đến… Chỉ cần đợi đến khi những người đàn ông đó rời đi và đèn trong phòng ngủ tắt đi, đó chính là thời điểm thích hợp nhất để hành động. Có lẽ do may mắn, mọi việc từ việc giết người đến việc khắc chữ lên xác nạn nhân đều diễn ra suôn sẻ… Khi anh treo xác Đài Lộ lên cây hoàng đàn cổ thụ đó, trong lòng anh lại chợt xuất hiện một cảm giác buồn bã…

Bởi vì anh biết rằng, dù hai người đó đều chết đi, cũng không thể đổi lại mạng sống của chị gái mình… Mặc dù anh đã trả thù cho chị gái, nhưng đôi tay anh cũng đã nhuốm đẫm máu. Dou Zhe đứng đó, mất tập trung… Xác Đài Lộ đang lắc lư trước gió… Lúc này, anh chợt nhớ đến một câu nói mà các thầy lái xe trong đoàn vận tải thường nói: “X

1/1 0%