lore

Chương 479: Một tương lai như thế nào

13,744 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Nhưng sự thay đổi công nghệ này đã xuất hiện trước tiên tại Hóa Quốc. Trong lĩnh vực sản xuất, Hóa Quốc đã có những ưu thế rõ ràng so với các quốc gia khác; nếu còn được bổ sung thêm lợi thế về năng lượng, miễn là Hóa Quốc không chuyển giao công nghệ nhiệt hạch ra nước ngoài, thì không một quốc gia nào trên thế giới có thể cạnh tranh được với Hóa Quốc về chi phí sản xuất.

Trước đây, chúng ta từng hy vọng vào các khu vực như Ấn Độ, Đông Nam Á, Mexico và Đông Âu, mong rằng họ có thể gánh vác trách nhiệm đảm bảo an ninh trong lĩnh vực sản xuất và tiếp nhận những công suất sản xuất được chuyển từ Hóa Quốc sang.

Thực tế là, những khu vực này chỉ có những ưu thế riêng biệt khi so sánh với Hóa Quốc. Ví dụ, về mặt logistics, việc nhập khẩu hàng hóa từ Mexico sang Mỹ chắc chắn sẽ rẻ hơn so với việc nhập khẩu từ Hóa Quốc. Chi phí lao động ở Đông Nam Á chắc chắn thấp hơn so với Hóa Quốc, và Ấn Độ có những ưu thế vượt trội trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển dược phẩm so với các quốc gia hoặc khu vực khác.

Tuy nhiên, những ưu thế này đều mang tính chất đơn lẻ; khi được kết hợp lại với nhau và so sánh với Hóa Quốc, ngay cả khi chi phí lao động của họ chỉ bằng 70% hoặc thậm chí ít hơn chi phí của Hóa Quốc, tổng chi phí vẫn không cho thấy họ có ưu thế gì cả.

Lĩnh vực sản xuất của Hóa Quốc, vốn đã sở hữu những ưu thế nhất định, sau khi đạt được bước đột phá trong công nghệ nhiệt hạch có thể kiểm soát được, thì những lợi thế về chi phí liên quan đến toàn bộ chuỗi sản xuất sẽ càng trở nên vô cùng lớn lao.

Trước đây, cùng một loại hàng hóa, chi phí sản xuất tại Hóa Quốc là 10 bảng Anh, trong khi tại Ấn Độ là 15 bảng Anh; nhưng theo thời gian, cơ sở hạ tầng của Ấn Độ ngày càng được cải thiện, chất lượng lao động cũng được nâng cao, và chi phí sản xuất tại Ấn Độ đang nhanh chóng tiến gần tới mức 10 bảng Anh.

Đối với Mỹ hay châu Âu, nếu chi phí sản xuất tại Ấn Độ giảm xuống còn 12 bảng Anh, thì thông qua sự hướng dẫn của chính phủ, chúng ta hoàn toàn có thể chuyển các nhà máy sản xuất sang Ấn Độ.

Đây chính là điều đã xảy ra trong quá khứ.

Hóa Quốc cũng rất mong muốn điều này xảy ra, bởi vì việc nâng cấp ngành sản xuất của họ sẽ giúp họ chấp nhận việc mất đi một số công suất sản xuất ở phân khúc thấp hơn.

Nhưng bây giờ tình hình đã khác; với công nghệ nhiệt hạch có thể kiểm soát được, Hóa Quốc có thể giảm chi phí sản xuất xuống còn 5, và trong tương lai có thể giảm xuống còn 1, trong khi Ấn Độ hay các khu vực khác dù có cố gắng đến

Thời gian chính là kẻ thù lớn nhất.

Và trong sự yên lặng, nước Hoa Quốc đã đạt được những bước tiến vượt bậc trong lĩnh vực năng lượng và lĩnh vực hàng không vũ trụ. Việc điều chỉnh quỹ đạo của bom hạt nhân liên quan trực tiếp đến an ninh của nước Mỹ, còn công nghệ nhiệt hạch có thể kiểm soát thì lại quyết định sự sống còn của họ.

Tệ hơn nữa, năm nay họ sẽ tổ chức cuộc bầu cử tổng thống. Nếu người lãnh đạo thay đổi, các chiến lược được áp dụng có thể sẽ hoàn toàn thay đổi.

Dù Đảng Lừa đảo trở lại Bạch Cung sau bốn hay tám năm, ngay cả với tốc độ phát triển lý tưởng nhất, nước Mỹ cũng không thể theo kịp nước Hoa Quốc trong lĩnh vực nhiệt hạch có thể kiểm soát được trong vòng tám năm.

Vì vậy, sau tám năm, nước Mỹ sẽ phải đối mặt với tình hình càng tồi tệ hơn, và Đảng Hình ảnh sẽ lên nắm quyền, khiến mọi thứ phải bắt đầu lại từ đầu.

Họ sẽ mãi bị mắc kẹt trong vòng luẩn quẩn này, và tình hình sẽ ngày càng xấu đi cho đến khi không thể cạnh tranh được với nước Hoa Quốc nữa.

Đó cũng là lý do tại sao hiện nay, từ khu vực Châu Á-Thái Bình Dương đến Đông Âu, từ Trung Á đến châu Phi, tất cả những người có hiểu biết đều không lạc quan về tình hình của nước Mỹ.

Và cũng là lý do tại sao đối với các quốc gia Trung Á, việc nước Mỹ phát triển công nghệ nhiệt hạch có thể kiểm soát được lại là tin xấu, nhưng họ vẫn buộc phải chọn nước Hoa Quốc.

Bởi vì họ rất rõ rằng, sau khi nước Hoa Quốc tung ra công nghệ nhiệt hạch có thể kiểm soát được, khả năng thắng của nước Mỹ đã giảm xuống dưới 10%.

Sau khi Nam tước Osborne nói xong, những ký ức trong quá khứ ùa về trong đầu Andrew Neil.

Là một phóng viên lâu năm, Andrew rất hiểu rằng, mặc dù cả nước Mỹ và Anh đều thuộc dòng dõi Anglo-Saxon và có những lợi ích chung về mặt địa chính trị, nhưng sự đồng thuận này không phát sinh từ trên trời xuống, cũng không phải do yếu tố dân tộc quyết định.

Từ khi nước Mỹ được thành lập cho đến khi quyền lực được chuyển giao sau Thế chiến II, hai nước này luôn có những cuộc đấu tranh âm thầm. Từ việc chính phủ nước Mỹ tham gia vào việc đánh cắp công nghệ dệt may của Anh trên quy mô lớn, cho đến việc Anh hỗ trợ phe Liên minh miền Nam trong Nội chiến Mỹ và sau đó bị buộc phải bồi thường 15 triệu đô la Mỹ.

Sau Thế chiến II, nước Mỹ đã đột ngột ngừng thực hiện “Đạo luật Cho thuê”, buộc Anh phải mua hàng hóa bằng tiền mặt và trả lại những hàng hóa được cho thuê, đồng thời ép Anh ký kết “Hiệp định Tài ch

Trên mạng Internet Trung Quốc, người ta thường nói rằng Anh là “cha” của Mỹ; cả hai đều sử dụng cùng một ngôn ngữ và có chung lợi ích, vì vậy họ thường phối hợp ăn ý với nhau trong nhiều việc. Thực ra, chính Anh mới là bên phải chịu thua cuộc và buộc phải trở thành “em út” của Mỹ.

Sau Thế chiến II, Andrew hiểu rất rõ cách Mỹ từng bước phá hủy các ngành công nghiệp mạnh mẽ của Anh. Sau này, khi anh làm phóng viên tại tờ The Times và theo dõi tin tức từ Đường Downing, anh còn nghe không ít lời than phiền của các quan chức ở đó về Mỹ.

Như vậy, về mặt địa chính trị, Mỹ chưa bao giờ gặp phải thiệt thòi nào; luôn là bên hưởng lợi, hoạt động một cách linh hoạt và thành công trong mọi tình huống.

Nhưng lần này, khi đối mặt với kẻ thù hoàn toàn khác biệt như Trung Quốc, tỷ lệ thắng của Trung Quốc đã lên tới 90%, điều này thực sự khiến Andrew rất sốc.

Mỹ – quốc gia mà Andrew từng ngưỡng mộ khi còn trẻ – giờ đây chỉ còn là những vết gỉ sét trên đồ đồng, sự oai nghiêm được tạo nên bởi thời gian… Nhưng khi đứng giữa dòng chảy công nghệ cao của Trung Quốc, những “đối thủ lớn” mà Andrew từng ngưỡng mộ giờ đây chỉ còn là những con cá vàng bơi trong bể kính; thực sự, con quái vật thực sự đang treo lơ lửng trên đầu họ, yên lặng như một lỗ đen nuốt chửng cả dải ngân hà…

Cảm giác thay đổi chóng mặt này khiến Andrew cảm thấy mình thực sự đã già đi.

Cần biết rằng, từ khi thành lập đến khi trở thành cường quốc, Mỹ đã mất tới 400 năm; trong khi đó, Trung Quốc chỉ mất 100 năm để đạt được điều tương tự.

Andrew chỉnh lại cà vạt, cầm lấy tờ báo trên bàn và bắt đầu đọc thành tiếng:

“Trong chiếc đồng hồ cát của lịch sử, Mỹ giống như một người thợ xây tỉ mỉ, dành 400 năm để xây dựng đế chế từ 13 thuộc địa thành một đế chế bằng đá cẩm thạch… Chưa kịp khô hẳn giấy khai sinh năm 1776, những bước chân của phong trào di cư về phía Tây đã đè nát những chiếc bình gốm của người bản địa; khi khói súng của Nội chiến Mỹ vừa tan biến, những bánh răng trên dây chuyền sản xuất của Ford đã siết chặt cổ họng của kỷ nguyên công nghiệp… Cho đến khi “con bò đồng đồng” trên Phố Wall phá vỡ bức màn Lạnh Chiến, Mỹ mới có thể đội lên đầu mình chiếc vương miện “siêu cường duy nhất” vào năm 1991.

Còn Trung Quốc thì giống như một nhà alkimia nắm giữ bí quyết gấp ghép không gian-thời gian… Khi mới thành lập vào năm 1949, đất nước này vẫn còn đầy rẫy hậu quả của chiến tranh; nhưng đến năm 1978, dòng chảy kinh tế thị trường đã bắt đầu tu

Những chiếc đinh vàng trên tuyến đường sắt xuyên lục địa Bắc Mỹ vẫn đang “ngủ yên” trong bảo tàng, trong khi tiếng còi của các chuyến tàu xuyên Châu Âu đã làm thức giấc con đường tơ lụa cổ đại ở Samarkand. Sự đua tranh này, giống như cuộc đối thoại giữa cơ học lượng tử và hình vẽ âm dương trong triết lý Đạo gia – một bên kiên nhẫn xây dựng quyền lực bằng phong cách steampunk, còn bên kia tái thiết hệ tọa độ của nền văn minh bằng các thuật toán của kỷ nguyên số.” Sau khi đọc xong, Andrew gấp lại tờ báo và nói: “Baron Osborne, những ý kiến vừa rồi được trích từ tờ *The New York Times*. Theo tờ này, cuộc cạnh tranh này đã không còn gì đáng bàn cãi nữa. Họ cho rằng Trung Quốc đã giành được danh hiệu siêu cường, chiến thắng trong cuộc đua này một cách hòa bình và hiếm có.”

Baron Osborne nuốt nước bọt và nói: “Không… Nếu dùng lời của người Hoa, thì tờ *The New York Times* chỉ là miệng nói khác lòng thôi. Mục đích của họ là để chứng minh rằng Đảng đang làm những điều tồi tệ đến mức nào, nhằm phá hủy hoàn toàn những ảo tưởng của những người ủng hộ việc tái thiết giấc mơ về nước Mỹ, để tránh những người như Donald xuất hiện và phá hỏng trật tự của nước Mỹ trong tương lai.”

Sau khi buổi ghi hình chương trình kết thúc, vào buổi tối, Baron Osborne mời Andrew Neil đến một quán bar cổ điển ở London để ăn tối, nhằm bày tỏ lòng biết ơn vì sự giúp đỡ của anh ta trong những năm qua.

“George, chúc mừng bạn! Lần trở lại Downing Street này sẽ là bước ngoặt mới trong cuộc đời bạn. Lần sau tôi mời bạn tham gia chương trình của Andrew Neil, danh hiệu của bạn sẽ là Thủ tướng đấy.” Andrew rất vui; điều này chứng tỏ rằng anh ta có tầm nhìn xa trông rộng.

Với tuổi tác, kinh nghiệm và địa vị của mình, George Osborne trở thành Thủ tướng cũng không mang lại lợi ích gì cho Andrew cả; điều duy nhất anh ta nhận được là sự thỏa mãn về mặt tâm lý khi thấy tầm nhìn của mình được chứng minh là đúng đắn.

Baron Osborne không phản bác, bởi vì ông biết rằng Thượng viện đã đồng ý với yêu cầu của mình. Mặc dù Baron McFarlane không liên lạc với ông và không nói rằng Thượng viện đã chấp nhận các điều khoản của ông, nhưng chỉ từ những bài báo đầy rẫy trên truyền thông Anh về việc ông có tầm nhìn xa trông rộng, người ta cũng có thể nhận ra điều đó.

Truyền thông Anh không chỉ ca ngợi những thành tựu của Trung Quốc và việc Trung Quốc vượt qua Mỹ, mà còn nói rằng quyết định thiết lập quan hệ hữu nghị với Trung Quốc của ông là hoàn toàn đúng đắn; chỉ là những Thủ tướng sau này không có tầm nhìn, khiến cho chiến lược ngoại giao đó không thể được duy trì.

Việc những nội dung như vậy được đưa tin

Tuy nhiên, một tương lai như vậy không hề làm cho Nam tước Osborne cảm thấy vui mừng chút nào. Ngoài niềm vui ngắn ngủi khi mục tiêu cuộc đời sắp được thực hiện, ông chỉ còn lại nỗi lo lắng vô tận: Làm thế nào để đưa con tàu già nua này của Anh Quốc trở lại đúng hướng?

Nam tước Osborne thực sự không biết phải làm thế nào.

Khác với Pháp và Đức, Anh Quốc gần như không có ngành công nghiệp sản xuất nào cả. Những ngành công nghiệp sản xuất ít ỏi từ trước đây cũng đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi quá trình toàn cầu hóa.

Ngành tài chính, giáo dục và thể thao của Anh Quốc có thể được khen ngợi… Nhưng liệu điều đó có thể thu hút người Hoa đến xem các trận đấu của Giải Ngoại hạng Anh không? Liệu mỗi câu lạc bộ trong Giải Ngoại hạng Anh có liên kết với các thành phố cấp một hoặc hai của Trung Quốc không? Như Chelsea ở Yên Kinh, hay Manchester United?

Liệu có thể biến Giải Ngoại hạng Anh thành một “siêu chiến hạm” dựa trên thị trường của Trung Quốc không?

Nhưng điều đó vẫn chưa đủ.

Để cứu vãn Anh Quốc, chỉ dựa vào ngành công nghiệp thể thao là chưa đủ.

Theo ông, chỉ có một cách duy nhất: đó là để London đóng vai trò là trung tâm tài chính do Trung Quốc dẫn đầu trên thế giới.

Việc trở thành trung tâm tài chính ở đây không chỉ đơn thuần là một vị trí danh nghĩa; nó còn liên quan đến rất nhiều “quyền lực đặc biệt”. Chẳng hạn, các doanh nghiệp Trung Quốc sẽ niêm yết và phát hành cổ phiếu trên thị trường London, việc thanh toán bằng đồng tiền của Trung Quốc, phát hành trái phiếu quốc gia, và huy động vốn đều sẽ được thực hiện tại London.

Đó chính là những yếu tố hỗ trợ về mặt tài chính.

Xét về mặt thực tế, với sự tồn tại của máy bay khổng lồ, thời gian di chuyển từ London đến bất kỳ thành phố cấp một nào của Trung Quốc chỉ khoảng hai tiếng rưỡi; vấn đề về khoảng cách không còn là trở ngại nữa.

Nhưng tại sao lại phải là London chứ?

Nếu Trung Quốc dẫn đầu thế giới, tại sao không phải là Manchester United đảm nhận vai trò này, mà lại là London?

Nam tước Osborne thực sự không thể nghĩ ra được Anh Quốc có thể đưa ra những gì để đổi lấy vị trí trung tâm tài chính thế giới này.

“Thực ra, những gì vừa được nói trong chương trình mới là điều đáng sợ nhất.” Nam tước Osborne nói với vẻ buồn bã. Chiếc ly thủy tinh va chạm vào nhau trong không khí; ly của Andrew chứa bia ale màu nhạt sản xuất tại nhà máy sản xuất bia Burton upon Trent, còn ly của Osborne thì chứa bia Stout đến từ Ireland.

“Những điều này đã đủ đáng sợ rồi chứ?” Andrew hỏi lại.

Theo ông, với chi phí sản xuất thấp của Trung Quốc, nếu toàn bộ ngành công nghiệp sản xuất trên thế giới đều chuyển sang Trung Quốc, điều đó đã đủ

Và bây giờ, với lợi thế về năng lượng, Trung Quốc có thể chiếm hết thị phần ngành công nghiệp sản xuất trên toàn cầu – điều này thật sự quá đáng kinh ngạc.

Điều mà Hoa Kỳ mong muốn là làm giảm thị phần công nghiệp của Trung Quốc; chính xác hơn, tất cả các quốc gia khác trên thế giới đều mong muốn điều này xảy ra, ngoại trừ chính Trung Quốc.

Các quốc gia đang phát triển muốn được chia sẻ “chiếc bánh” này; họ không muốn chỉ có một bên thống trị duy nhất, đó là Trung Quốc.

Kết quả là sau bao nhiêu nỗ lực và biện pháp khác nhau, chúng ta không chỉ không giành lại được những “quân bài” trong tay đối thủ, mà ngược lại, họ còn chiếm hết tất cả những gì chúng ta đang sở hữu.

Và đó vẫn chưa phải là điều đáng sợ nhất…

Andrew bỗng cảm thấy choáng váng; tuổi tác đã cao, ông thực sự không thể chịu đựng nổi những điều này.

Thật sự quá đáng khiếp sợ rồi…

“Đúng vậy, tương lai của thế giới hiện nay hoàn toàn phụ thuộc vào việc Trung Quốc sẽ quyết định làm gì.

Nếu lãnh đạo Trung Quốc là những người ở Washington, thì tương lai chắc chắn sẽ là quá trình dần dần thôn tích các quốc gia khác, và sau hàng chục, thậm chí hàng trăm năm, Trung Quốc sẽ thực hiện được sự thống nhất toàn cầu.

Nhưng nếu là chính Trung Quốc… tôi không biết họ sẽ chọn con đường nào.”

1/1 0%