Chương 56: Binh sĩ của đại đội kỵ binh
Các chiến sĩ của trung đoàn 769, thuộc các tiểu đoàn một và hai, lập tức bắt đầu chạy về phía sau. Trong cuộc tấn công pháo binh vừa rồi, 15 khẩu súng máy của hai tiểu đoàn đã bị phá hủy, trong đó có 3 khẩu.
Đối mặt với những trận pháo kích dày đặc và lực lượng kỵ binh Nhật Bản đang lao vào, các chiến sĩ vẫn tiếp tục chạy trốn một cách điên cuồng.
“Giết cho được!!”
“Tấn công!”
Nhìn thấy quân đội Tám Lộ càng ngày càng hoảng loạn và chạy trốn, chỉ huy đại đội kỵ binh Nhật Bản, Sen Fanta, càng thêm phấn khích và liên tục ra lệnh cho các binh sĩ kỵ binh của mình tấn công.
Nói đến kỵ binh, có hai thuật ngữ chuyên môn: kỵ binh bắn súng và kỵ binh nhẹ.
Kỵ binh bắn súng có thể được tóm tắt bằng tám từ: di chuyển trên lưng ngựa và chiến đấu khi xuống ngựa.
Lực lượng kỵ binh bắn súng thường tận dụng ưu thế về tính linh hoạt nhanh chóng để đến địa điểm được chỉ định, sau đó các kỵ binh phải xuống ngựa để chiến đấu, thực chất họ lại trở thành bộ binh.
Trong khi đó, kỵ binh nhẹ thì khác; họ di chuyển và chiến đấu đều trên lưng ngựa.
Hai loại kỵ binh này đều có những ưu và nhược điểm riêng.
Nhược điểm của kỵ binh bắn súng là trong thời gian chiến đấu, ít nhất một phần ba số người phải được điều động để chăm sóc ngựa; một mặt làm giảm số lượng binh sĩ chiến đấu, mặt khác những con ngựa này lại trở thành điểm yếu dễ bị địch tấn công. Kỵ binh nhẹ không gặp phải vấn đề này, nhưng việc tấn công trên lưng ngựa khiến mục tiêu bị phơi bày và tỷ lệ thương vong cũng cao hơn.
Quân đội Nhật Bản và Quốc dân Đảng chủ yếu sử dụng kỵ binh bắn súng, trong khi đó lực lượng kỵ binh của quân đội Tám Lộ và New Fourth Army thì không có sự thống nhất cụ thể.
Mặc dù triết lý chiến đấu của kỵ binh Nhật Bản là theo kiểu kỵ binh bắn súng, nhưng trong thực tế, những kỵ binh này, bị ảnh hưởng sâu sắc bởi tinh thần samurai, lại cố tình hành xử như kỵ binh nhẹ, thậm chí coi việc chiến đấu trên mặt đất là điều đáng xấu hổ.
Dù về mặt tổ chức lực lượng, triết lý chiến đấu hay tư tưởng hướng dẫn, Nhật Bản đều áp dụng mô hình kỵ binh bắn súng, nhưng trong thực chiến, họ lại luôn tự coi mình là kỵ binh nhẹ.
Kỵ binh Nhật Bản chỉ có thể lợi dụng được điểm yếu về hỏa lực và đạn dược của quân đội Trung Quốc trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến. Tuy nhiên, khi đối mặt với đội quân thép của Liên Xô trong trận chiến Mông Cổ-Nomonhan, những kỵ binh này đã phải trả giá đắt bằng sinh mạng của mình.
Trước đâ
……
Ở phía xa, khi nhìn thấy cảnh tượng này qua ống nhòm, khuôn mặt của Thường Cương Quản Trị và Tiểu Xuyên Tuyết Tùng đều hiện lên nụ cười lạnh lùng.
Mặc dù đội kỵ binh không tuân theo quy trình tấn công tiêu chuẩn mà đã bắt đầu cuộc tấn công sớm hơn dự kiến, nhưng trận chiến gần như đã không còn điểm nào để tranh tài nữa.
Ưu thế của quân đội Nhật Bản nằm ở việc họ có nhiều vũ khí tự động hóa và đủ đạn dược, cụ thể là Súng máy nhẹ và súng trường tấn công. Trong khi đó, ưu thế của quân đội Quốc dân Đạo giáo nằm ở sức mạnh vượt trội và trình độ chiến đấu cao của từng binh sĩ.
Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất của quân đội Quốc dân Đạo giáo chính là thiếu pháo binh – điều này thực sự rất nguy hiểm. Dù họ có bao nhiêu điểm tập trung hỏa lực và đạn dược, trong điều kiện địa hình bằng phẳng và không có bất kỳ chướng ngại vật nào để che chắn, các loại pháo và súng ném đá của quân Nhật Bản vẫn có thể gây ra áp lực lớn đối với các điểm tập trung hỏa lực của quân đội Quốc dân Đạo giáo.
Nếu không phải vì quân Nhật Bản vội vàng đến Vương Đông Bảo và tiến hành cuộc tấn công khi lần đầu tiên không có pháo hạng nặng, lần thứ hai lại không chuẩn bị đầy đủ vũ khí, thì chỉ sau nửa giờ bị pháo binh Nhật Bản tấn công liên tục, gần như một nửa số điểm tập trung hỏa lực của quân đội Quốc dân Đạo giáo đã bị tiêu diệt hoàn toàn. Sau đó, họ mới cho bộ binh tiến hành tấn công; nếu bộ binh thất bại, họ lại yêu cầu pháo binh tiếp tục bắn phá, rồi bộ binh lại tiến công tiếp…
Trong chiến tranh, chẳng phải chính là sự đánh đổi về sức mạnh và đạn dược sao?
Nếu cứ lặp đi lặp lại như vậy, dù quân đội Quốc dân Đạo giáo có hàng nghìn điểm tập trung hỏa lực và hàng triệu viên đạn, họ cũng sẽ bị tiêu diệt. Nhưng như vậy, Lữ đoàn 2 độc lập sẽ không kịp đến Vương Đông Bảo theo thời hạn mà Tướng Itagaki đã quy định.
May mắn thay, đội kỵ binh đã kịp thời đến và, dưới sự yểm trợ của sức mạnh vượt trội của pháo binh hỏa, họ đã tiến hành cuộc tấn công vào quân đội Quốc dân Đạo giáo. Kết quả là quân đội Quốc dân Đạo giáo lập tức bị đánh bại và phải tháo chạy.
Nhưng làm sao con người có thể chạy nhanh hơn được bốn cặp chân mạnh mẽ của ngựa chứ?
“Cuộc chiến này nên kết thúc rồi,” Thường Cương Quản Trị – Thiếu tướng nói một cách lạnh lùng:
“Yêu cầu Đại đội bộ binh thứ 3 và Đại đội bộ binh thứ 4 tiến hành tấn công từ phía bên trái và giữa, phối hợp với đội kỵ binh để bao vây quân đội Quốc dân Đạo giáo; yêu cầu Đại
Bỗng nhiên, họ nhìn thấy phía trước xuất hiện hàng loạt súng máy hạng nhẹ và hạng nặng, cùng với những ống súng của loại vũ khí súng trường tấn công; tổng cộng có đến vài chục khẩu súng máy và vài chục Súng trường tấn công nữa.
Mỗi viên đạn đều được bắn ra một cách chính xác, không sai lệch chút nào.
Tình hình nguy cấp đã khiến các chiến sĩ trong giây lát đó hoàn toàn bị choáng váng.
Lực lượng kiểm soát hành vi chiến đấu? Lực lượng đồng minh lại bắn vào chính người của mình sao?
Quân đội Bát Lộ Quân không có lực lượng kiểm soát hành vi chiến đấu riêng biệt. So với quân đội Trung Hoa Dân Quốc, Bát Lộ Quân không thiết lập các đơn vị chuyên trách giám sát hoạt động chiến đấu của binh sĩ.
Trong quá trình giao tranh, các cán bộ quân đội như trưởng ban, trưởng đội, trưởng liên đội thường đảm nhận vai trò dẫn dắt đội quân và đồng thời giám sát họ. Những người này, với tư cách là những “kiểm soát viên” tại tuyến đầu, có thể xử lý ngay các trường hợp binh sĩ sợ hãi và bỏ chạy.
Nhưng những khẩu súng máy và vũ khí súng trường tấn công đang nhắm thẳng vào họ này là tình huống gì vậy?
“Nằm xuống!”
Các xạ thủ súng máy phía trước cùng với các chỉ huy thuộc đại đội 769, từ trưởng ban đến trưởng đội và trưởng liên đội, đều hét lớn lệnh này. Các chiến sĩ mới bừng tỉnh như từ mơ giấc, vội vàng nằm xuống đất.
Tất cả những chiến sĩ này đều là những binh sĩ kinh nghiệm của Quân đội Đỏ; họ phản ứng cực kỳ nhanh chóng. Chỉ trong vài giây, tất cả đều nằm xuống đất, tạo điều kiện thuận lợi cho đồng đội tiến hành bắn đạn.
“Bắn!”
Các khẩu súng máy hạng nhẹ và hạng nặng, cùng với những vũ khí súng trường tấn công dự bị, gần như đồng thời nổ súng.
Đập đập đập đập đập…
Trong tiếng súng dày đặc, không hề có khoảng lặng nào, từ những bụi cỏ um tùm, bất ngờ xuất hiện những luồng đạn. Bốn khẩu súng máy Maxim loại bốn nòng, được trang bị ống ngắm quang học – tức là tổng cộng 16 khẩu súng Maxim – cũng gần như đồng thời nổ súng.
Những luồng đạn này được bắn về phía lực lượng kỵ binh địch, tạo thành những màn đạn dày đặc. Những viên đạn này bay qua đầu các chiến sĩ của đại đội 769, xuyên qua làn khói súng và những hố đạn, tạo thành một “vùng chết chóc” không thể vượt qua.
Khi những con ngựa kỵ binh địch chạm phải những màn đạn này, chúng liên tục ngã gục; toàn bộ đội hình của chúng lập tức rối loạn.
Những con ngựa kỵ binh địch phía trước ngã gục như cỏ bị cắt; những con ở phía sau vẫn không hiểu chuyện gì đ
Chưa có truyện phù hợp.