lore

Chương 606: Phép màu (Phần 1)

11,475 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Thành phố Quảng Đức không phải là nạn trộm cắp, mà là đang chịu “thảm họa quân sự”.

Lôi Hùng nhận lệnh dẫn đầu lực lượng chính của Trung đoàn Độc lập đến vị trí cách thành phố Quảng Đức ba km về phía tây để thiết lập tuyến phòng thủ; cái đầu của ông ta thật sự rất to.

Nhìn vào các bản vẽ đường hầm mà Đường đao vẽ cho mình, ông ta có lúc nghi ngờ liệu Đường đao có muốn khiến cả ông và lực lượng chính của Trung đoàn Độc lập phải kiệt sức đến chết hay không.

Đường đao đã mang đi hai tiểu đoàn bộ binh, chỉ để lại cho ông ta chưa đầy 900 người. Chỉ với số người này, việc đào vài chiếc hào trong vòng 24 giờ có lẽ còn khá khả thi, nhưng nếu phải làm theo yêu cầu của Đường đao – đào những đường hầm có khả năng chống chịu đạn pháo hạng nặng trên núi – thì đó thực sự là điều bất khả thi.

Tuy nhiên, vấn đề về nhân lực nhanh chóng được giải quyết khi Lãnh Phong dẫn một tiểu đoàn trở về, thậm chí còn mang theo hai tiểu đoàn bộ binh của Quân đội Sichuan đến báo cáo với Lôi Hùng; số lượng người lính bỗng nhiên tăng thêm gần một nghìn người.

Nhưng với 2000 người, vẫn còn quá ít.

Vào buổi chiều, tại tuyến đầu biên giới, Đường đao thông qua máy radio chiến đấu do Tiểu đoàn 2 mang theo đã báo cáo với Lôi Hùng rằng quân đội Sichuan tại tiền tuyến quyết tâm chiến đấu đến cùng, nhằm mua thời gian 36 giờ cho tuyến phòng thủ của Núi chuột.

Lôi Hùng cũng là một người rất quyết đoán; ông hiểu rõ rằng 36 giờ đó không hề dễ dàng đạt được, mà là giá trị mà các binh sĩ thuộc Sư đoàn 145 của Quân đội Sichuan đã đánh đổi bằng mạng sống của mình.

Nhân lực không đủ à! Vậy thì tuyển mộ thôi.

Những người dân rời bỏ thành phố Quảng Đức thực ra chưa đi xa lắm, họ đều tản mát ở những ngọn núi gần đó, vẫn hy vọng có thể tránh được cuộc chiến này rồi mới trở về nhà. Nhóm đặc nhiệm đi tuần tra gần khu vực của Núi chuột đã báo cáo rằng trong phạm vi 5 dặm xung quanh, có rất nhiều người dân đang ẩn náu trong những túp lều nhỏ; họ hoàn toàn không biết rằng nơi đây sắp trở thành chiến trường.

Có lẽ, đây chính là nơi diễn ra những trận chiến ác liệt nhất trên toàn tuyến phòng thủ Quảng Đức.

Ban đầu, ý định của Quách Thủ Chí là cử một vài tổ đội bộ binh đến những ngọn núi lân cận để thuyết phục những người dân đang trốn tránh chiến tranh rời đi, đi xa hơn một chút… Bởi bất cứ lúc nào, nơi đây cũng có thể bị pháo hoa bao phủ.

Tuy nhiên, Lôi Hùng đã nghĩ đến điều này ngay từ đầu – bây giờ chúng ta đang thiếu nhân lực mà! Những người dân này hoàn toàn có thể được sử dụng vào công việc này.

  Tất nhiên, chúng ta sẽ không áp dụng hình thức tuyển dụng lao động bắt buộc, mà sẽ dựa trên hệ thống thuê mướn.

 
Vốn 10.000 đô la Mỹ dành để phát cho các binh sĩ có thành tích xuất sắc trong trại quân đội độc lập vốn đã được cất sẵn ngay trước khu trại tạm thời được xây dựng bằng gỗ.

  Gần 100 binh sĩ được cử đi thông báo rằng bất kỳ người dân nào đến tham gia công việc xây dựng chiến địa sẽ được trả công 24 giờ liên tục, miễn phí ăn uống; đối với người trưởng thành và thanh niên, họ sẽ nhận được 2 đô la Mỹ cùng với 1 kg gạo và mì; còn phụ nữ, trẻ em thì nhận được 1 đô la Mỹ cùng với 1 kg gạo và mì.

  Mức thù lao này thật sự rất hấp dẫn. Trong thời đại đó, ngay cả ở những thành phố phát triển như Bắc Kinh hay Nam Kinh, một công nhân làm việc cật lực suốt một tháng cũng chỉ kiếm được khoảng 7–8 đô la Mỹ; huống chi là ở một thị trấn nhỏ như Quảng Đức, nằm ở vùng núi phía nam An Huy, một gia đình bình thường có thể dùng hết 2 đô la Mỹ trong cả tháng.

  Mặc dù công việc này là xây dựng chiến địa, nhưng không ai biết khi nào cuộc chiến sẽ bắt đầu; hơn nữa, mức thù lao cao và việc được nhận thêm 1 kg gạo và mì càng khiến điều này trở nên hấp dẫn hơn. Đối với những người đang sống trong tình trạng lưu lạc, thực phẩm là thứ vô cùng quý giá.

  Chỉ sau 3 giờ, hơn 6.000 người đã đổ về khu vực chiến địa; cùng với gần 2.000 quân sĩ hiện có, nơi này trở nên náo nhiệt không ngớt tiếng nói.

  10.000 đô la Mỹ đã được phân phát, và lượng vật tư hậu cần ban đầu cũng giảm đi khá nhiều; tuy nhiên, đám đông lớn này đã mang lại cho Lôi Hùng sự tự tin cần thiết.

  Tuy nhiên, lệnh đầu tiên mà ông ấy đưa ra không phải là đào hầm ngay tại chỗ, mà là yêu cầu toàn bộ quân và dân cùng nhau chặt cây.

  Những cây cối và bụi rậm bao phủ con đường nhỏ nối Quảng Đức với Vũ Hán, hướng về phía thành phố Quảng Đức, đều bị chặt hết.

  Với số lượng người đông đảo, chỉ trong vài giờ, những ngon đồi cao hướng về phía đông trong khu vực Núi chuột đã trở nên trơ trụi; không chỉ những người Tây Tạng, mà ngay cả một con thỏ trên núi cũng có thể được nhìn thấy rõ ràng từ đỉnh núi.

  Trong quá trình chặt cây, tất cả các sinh vật sống có thể

Trong tình trạng chiến tranh, mạng sống con người cũng chỉ đáng giá như những ngọn nến sắp tàn, chứ đừng nói đến việc bảo vệ động vật.

Việc bảo vệ môi trường và yêu thương động vật chỉ có thể xảy ra trong thời bình và thịnh vượng. Những con bồ câu hòa bình bay lượn trên bầu trời, trong thời kỳ chiến tranh, chỉ là những món ăn mà thôi.

Khi quân và dân phá hủy hết gỗ cành và bụi rậm, sau đó đốt cháy cỏ dại, sườn núi hướng đông trở nên tĩnh lặng và u ám.

Có hai lý do để tiến hành việc khai thác gỗ: thứ nhất, không có lý do gì để để lại bất kỳ vật cản nào cho quân Nhật Bản đang lao đến; điều đó chỉ khiến bản thân họ gặp rắc rối mà thôi. Thứ hai, việc xây dựng hầm hố và công sự phòng thủ đòi hỏi phải sử dụng rất nhiều gỗ để làm giàn đỡ.

Trên núi chủ yếu là các loại cây lá rộng; những gỗ đã được chặt xuống vẫn chưa đủ, vì vậy họ buộc phải phá hủy những cây hiện có.

Thị trấn đã không còn người ở nữa, chính là nguồn cung cấp gỗ lý tưởng nhất. Hàng nghìn quân và dân đang đối mặt với nguy cơ tử vong, họ như những đàn châu chấu qua đường, chỉ trong một đêm, họ đã phá hủy hết mọi thứ có thể sử dụng được trong thành phố Guangde, thậm chí cả gỗ và thép cũng không còn sót lại gì, tình cảnh còn bi thảm hơn cả khi bị cướp bóc.

Bị buộc phải phá hủy ngôi nhà của mình, người dân tất nhiên cảm thấy phản đối, nhưng lời nói của Lôi Hùng đã chạm đến trái tim họ:

“Nếu mọi người thấy tiếc và không muốn phá hủy, thì chúng ta sẽ không thể xây dựng được các công sự phòng thủ. Lúc đó, quân đội chúng ta sẽ buộc phải dùng thành phố Guangde làm nơi đóng quân. Dưới làn đạn pháo, cả quân đội và thành phố Guangde sẽ đều bị thiêu rụi.”

Ý ông ấy là, bây giờ chỉ là phá hủy cửa sổ, cửa ra vào và các thanh gỗ cấu trúc thôi; nhưng nếu chúng ta buộc phải dùng tường thành nhỏ của Guangde làm hàng rào phòng thủ, thì thành phố này sẽ không còn gì sót lại cả.

Người dân chỉ là những người bình thường; họ trốn vào núi là vì sợ người Nhật Bản giết chóc và đốt phá, nhưng điều đó không có nghĩa là họ muốn rời bỏ quê hương mà tổ tiên họ đã sinh sống từ bao đời nay. Họ luôn mong chờ chiến tranh kết thúc để trở về nhà. Nghe những lời này, họ thấy rằng thà tuân theo mệnh lệnh của cấp trên để phá hủy còn hơn, ít ra vẫn còn sót lại một số bức tường gạch hay cái gì đó, còn hơn là chỉ còn lại đống đổ nát.

Với suy nghĩ này, họ phá hủy ngôi nhà của mình một cách tích cực hơn cả binh sĩ, sợ rằng

Nhưng loại tâm lý phi thực tế này lại cực kỳ hiệu quả trong việc giúp Núi chuột xây dựng các tiền đồn phòng thủ.

Vào buổi tối, Đường đao đã cưỡi con ngựa mượn từ một trung tướng của quân Tây Xuyên để quay trở lại “công trường thi công lớn” đang diễn ra hết sức sôi nổi.

Toàn bộ khu vực Núi chuột gồm ba ngọn núi, được sắp xếp thành hình chữ “Phẩm”, bao quanh con đường nhỏ quanh co ấy.

Nếu không chiếm giữ được ba ngọn núi này, bộ binh Nhật Bản có thể cố gắng vượt qua những ngọn núi để tiến đến Vũ Hán, nhưng pháo binh và đồ tiếp tế của họ sẽ chỉ có thể đứng yên ở xa, chờ đợi thôi.

Còn những đơn vị bộ binh hạng nhẹ đi qua những ngọn núi lớn ở miền nam An Huy thì có thể làm được gì? Có thể đi giao đầu cho quân đội Trung Quốc ở khu vực xung quanh Thành Đô Kim Lăng sao?

Thực ra, chính người Nhật Bản cũng biết rõ rằng, trong cuộc chiến này với Trung Quốc, điểm mạnh của họ không nằm ở số lượng binh sĩ hay sức mạnh chiến đấu của họ, mà nằm ở sức mạnh công nghiệp và kinh tế của hai quốc gia.

Nhật Bản, sau gần một trăm năm học hỏi, đã kịp tham gia Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai và đã xây dựng được một hệ thống công nghiệp hoàn chỉnh, có khả năng sản xuất máy bay, xe tăng, pháo binh, thậm chí là các tàu chiến và tàu sân bay lớn.

Còn Trung Quốc vào thời điểm đó thì sao? Không có ngành công nghiệp nặng, ngay cả ngành công nghiệp nhẹ cũng không mấy phát triển.

Việc Nhật Bản sử dụng vũ khí pháo binh nhiều hơn Trung Quốc chỉ là một lợi thế nhỏ mà thôi. Nếu không có vũ khí này, sức mạnh thực sự của quân đội Nhật Bản cũng không hề lớn lao.

Vì vậy, ba cao điểm mà Đường đao đặt tên là số 1, số 2 và số 3 chính là những nơi mà quân đội Nhật Bản nhất định phải tấn công nếu muốn tiến về phía tây.

Các sĩ quan và binh sĩ thuộc đại đội độc lập này, sau khi trải qua trận chiến Tùng Giang và các trận phòng thủ ở tuyến Jiaxing, đã trở thành những chiến binh giàu kinh nghiệm thực sự.

Tuy nhiên, việc phòng thủ trên vùng đất núi vẫn là lần đầu tiên đối với họ; nói họ am hiểu thì quá đáng nói, còn nói họ thành thục thì thật là vô lý. Kể cả Lôi Hùng trong số họ, vẫn đang áp dụng những phương pháp cũ, xây dựng hào chiến theo đường dốc của núi, và về chiến thuật chiến đấu trong các hầm ngầm dọc theo sườn núi, họ vẫn chỉ mới biết qua những gì Đường đao đã liên tục nhắc đến trong vài ngày qua mà thôi.

Vì vậy, Đường đao buộc phải đến đó trực tiếp kiểm soát tình hình; nếu không, khi máy

Ba cao điểm đều được xây dựng theo phương thức truyền thống: đầu tiên, một hào chiến được đào trong khu vực cách đỉnh núi khoảng năm mươi mét; sau đó, một hào chiến khác được xây dựng dọc theo đường viền của các cao điểm đó.

Tất nhiên, so với hai hào chiến chính này, những đường hầm nằm phía sau đường viền mới là yếu tố quan trọng hơn.

Do góc bắn, pháo binh Nhật Bản chỉ có thể gây tổn thương cho binh sĩ trong các hào chiến; đối với bộ binh ẩn náu phía sau đỉnh núi, những khẩu pháo đó không thể gây ảnh hưởng gì. Tuy nhiên, Nhật Bản vẫn sở hữu máy bay ném bom, và những quả bom rơi từ trên không sẽ không phân biệt bạn đang ở phía trước hay phía sau núi.

Lúc này, đường hầm mới trở thành yếu tố then chốt. Chính những đường hầm này – được phát triển trong cuộc chiến trên vùng băng giá hàng chục năm sau đó – đã trở thành công cụ hiệu quả để bảo vệ binh sĩ Trung Quốc khỏi hàng loạt quả bom do máy bay Nhật Bản ném xuống.

Cả hai hệ thống hào chiến phòng thủ đều có nhiều đường hầm thông qua đến các đường hầm nằm phía sau đỉnh núi. Công việc thi công các hào chiến phía trước và đường hầm phía sau đỉnh núi hiện vẫn được thực hiện theo ý kiến của Đường đao.

Tuy nhiên, khi Đường đao đi kiểm tra toàn bộ tuyến phòng thủ và nhìn thấy những hình thức hào chiến vừa được binh sĩ khai quật trên ba cao điểm, ông ta thực sự rất thất vọng. Mặc dù các hào chiến không được xây dựng theo đường thẳng, nhưng để tiết kiệm công sức và thời gian, binh sĩ vẫn chọn xây dựng theo hình cong đơn giản.

Nhưng điều đó có ích gì? Nếu quân Nhật sử dụng pháo hạng nặng, chỉ cần một quả bom rơi vào hào chiến, sóng xung kích sẽ lan rộng hàng chục mét, và cả một trung đội hoặc thậm chí nửa đại đội bộ binh đều có thể bị tiêu diệt. Những hào chiến như vậy chỉ có thể trở thành ác mộng đối với binh sĩ. Họ vẫn còn quá thiếu hiểu biết về các công sự chiến đấu ngoài trận địa… Nếu họ thấy những hệ thống hào chiến phức tạp mà binh sĩ Trung Quốc sử dụng trên núi Ngũ Thánh sau hàng chục năm, chắc chắn họ sẽ cảm thấy rất xấu hổ. Dù có vội vàng đến đâu, cũng không thể làm ẩu.

1/1 0%